vanban.org

Điều 13. Chủ đầu tư của dự án — Quyết định 28/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/03/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 20/03/2017 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 13/2017/QĐ-UBND · 10/03/2017 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 34/2016/QĐ-UBND · 30/08/2016
Kon Tum Ban hành 26/09/2011 Hiệu lực 06/10/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 28/2011/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định một số vấn đề về công tác Quy hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội và quản lý đầu tư xây dựng công trình sử dụng ngân sách nhà nước của tỉnh Kon Tum · 28/2011/QĐ-UBND
20/03/201713/2017/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 15/09/201634/2016/QĐ-UBNDBãi bỏ 06/10/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 28/2011/QĐ-UBND › Chương III › Mục 2 › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Chủ đầu tư của dự án

Việc xác định chủ đầu tư của dự án đầu tư xây dựng công trình được thực hiện theo Điều 3, Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ. Chủ đầu tư của dự án phải được cấp có thẩm quyền quyết định trong chủ trương đầu tư xây dựng công trình, phù hợp quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Việc xác định chủ đầu tư thực hiện như sau:

1. Đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ: Chủ đầu tư dự án là Ủy ban nhân dân tỉnh; Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho các cơ quan quản lý chuyên ngành hoặc ban quản lý dự án xây dựng chuyên ngành có đủ điều kiện, năng lực tổ chức thực hiện một phần nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư.

2. Đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp:

a) Chủ đầu tư các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển là đơn vị quản lý, sử dụng công trình nếu có đủ điều kiện để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư.

b) Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyết định đầu tư có thể giao cho đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư. Trong trường hợp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì đơn vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư trong việc tổ chức lập dự án, thiết kế, theo dõi, quản lý, nghiệm thu và tiếp nhận đưa công trình vào khai thác, sử dụng.

c) Trường hợp không xác định được chủ đầu tư theo quy định tại điểm b khoản này thì người quyết định đầu tư có thể uỷ thác cho đơn vị khác có đủ điều kiện làm chủ đầu tư hoặc đồng thời làm chủ đầu tư.

d) Các đơn vị sự nghiệp công lập là chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn bằng nguồn thu sự nghiệp để lại theo quy định để đầu tư cơ sở vật chất của đơn vị.

đ) Các trường hợp khác, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp xem xét quyết định đối với từng dự án đầu tư cụ thể phù hợp với phương thức đầu tư và quy mô của dự án.