Điều 12. Quy định cụ thể về khen thưởng thành tích trong các phong trào thi đua chuyên đề
1. Đơn vị, địa phương cấp nào phát động phong trào thi đua chuyên đề thì đơn vị, địa phương cấp đó thực hiện khen thưởng theo thẩm quyền. Chủ tịch UBND thành phố chỉ khen thưởng đối với các phong trào do thành phố phát động hoặc phê duyệt.
2. Đối với các phong trào thi đua, chuyên đề đã được Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt, khi tiến hành sơ kết, tổng kết, cơ quan chủ trì chuyên đề xét chọn tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, xuất sắc đề nghị Chủ tịch UBND thành phố xem xét tặng Bằng khen, trong đó ưu tiên khen thưởng cho tập thể nhỏ, cá nhân trực tiếp thực hiện phong trào thi đua.
3. Đối với các phong trào thi đua, chuyên đề đã được Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt, Thủ trưởng các đơn vị, địa phương được giao chủ trì chuyên đề ban hành hoặc tham mưu Chủ tịch UBND thành phố ban hành Kế hoạch tổ chức phong trào thi đua; trong đó xác định rõ mục tiêu, phạm vi, đối tượng, nội dung, tiêu chí thi đua, thời gian, kế hoạch, biện pháp tổ chức phong trào thi đua, số lượng, tiêu chuẩn khen thưởng (trừ các chuyên đề đã được Thành ủy, Hội đồng nhân dân, UBND thành phố quy định cụ thể các nội dung này), lấy ý kiến của Sở Nội vụ thống nhất trước khi ban hành.
4. Chủ tịch UBND thành phố không xem xét khen thưởng đối với các phong trào thi đua chuyên đề không xây dựng kế hoạch, không có thời gian, mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp, tiêu chí thi đua; đối tượng, số lượng, tiêu chuẩn khen thưởng chưa rõ ràng, cụ thể.
5. Tập thể, cá nhân được đề nghị tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND thành phố về thành tích chuyên đề phải được lựa chọn tiêu biểu, thực chất trong số tập thể, cá nhân đảm bảo thành tích 02 năm liền trở lên, trừ các phong trào có xếp hạng hàng năm hoặc các phong trào thi đua có thời gian ngắn hạn (dưới 01 năm).
6. Khi xét khen thưởng phong trào thi đua, chủ yếu khen tập thể nhỏ và cá nhân trực tiếp thực hiện phong trào, chú trọng các điển hình là người trực tiếp lao động, sản xuất, có nhiều sáng tạo, các nhân tố điển hình ở cấp cơ sở, các lĩnh vực trọng yếu, khó khăn.
7. Khi các đơn vị, địa phương tiến hành sơ kết, tổng kết việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị định, đề án, dự án hoặc phục vụ hội nghị, hội thảo... thì thực hiện khen thưởng theo thẩm quyền, không đề nghị khen thưởng cấp thành phố, cấp Nhà nước, trừ khi có chỉ đạo của Trung ương hoặc lãnh đạo thành phố.
Đối với việc khen thưởng đã có văn bản đồng ý chủ trương tặng Bằng khen của lãnh đạo thành phố thì đơn vị, địa phương chủ trì chuyên đề phải xây dựng mục đích, đối tượng, số lượng, tiêu chuẩn khen thưởng để chủ động trong công tác tham mưu, đề xuất khen thưởng, phục vụ kịp thời các hội nghị do lãnh đạo thành phố chủ trì. Số lượng đề nghị khen thưởng không quá 10 trường hợp.
Trường hợp đặc biệt có số lượng khen thưởng nhiều hơn 10 trường hợp, đơn vị, địa phương giải trình cụ thể lý do để Chủ tịch UBND thành phố xem xét, quyết định.
8. Đối với các phong trào thi đua do Trung ương phát động, việc tặng Bằng khen của Chủ tịch UBND thành phố được thực hiện theo hướng dẫn của Trung ương. Trong đó cơ quan chủ trì đề nghị khen thưởng phải cụ thể hóa đối tượng, số lượng, tiêu chuẩn khen thưởng Bằng khen của Chủ tịch UBND thành phố hoặc giấy khen của cấp có thẩm quyền.
9. Đơn vị, địa phương cấp thành phố xét thấy có những phong trào thi đua cần thiết phải trình Chủ tịch UBND thành phố khen thưởng, phải có văn bản đăng ký thi đua với UBND thành phố, trong đó xác định rõ sự cần thiết, mục đích tổ chức phong trào thi đua cấp thành phố, thời gian, tiêu chí thi đua, đối tượng, số lượng, tiêu chuẩn khen thưởng, gửi về Sở Nội vụ trước ngày 15 tháng 12 hằng năm để tổng hợp trình Chủ tịch UBND thành phố xem xét, phê duyệt.