Điều 7. Trách nhiệm của các cơ quan hữu quan
1. Công an tỉnh, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Bảo hiểm Xã hội tỉnh, Cục Thuế tỉnh và các cơ quan có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin khi có đề nghị của Sở Ngoại vụ về tình hình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp và các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp có doanh nhân đề nghị xét, cho phép sử dụng thẻ ABTC theo nhiệm vụ được giao như sau:
a) Công an tỉnh chịu trách nhiệm cung cấp tình hình chấp hành pháp luật tại địa phương của doanh nghiệp có doanh nhân đề nghị được sử dụng thẻ ABTC;
b) Sở Công Thương chịu trách nhiệm cung cấp tình hình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp về thương mại và cung cấp số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu của doanh nghiệp trong năm gần nhất;
c) Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm cung cấp tình hình chấp hành pháp luật lao động của doanh nghiệp theo ủy quyền quản lý;
d) Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp phối hợp cung cấp những thông tin liên quan đến doanh nghiệp;
đ) Bảo hiểm xã hội tỉnh chịu trách nhiệm trong việc xác nhận tình hình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp và doanh nhân về bảo hiểm xã hội;
e) Cục Thuế tỉnh và Chi cục Thuế các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm cung cấp tình hình chấp hành pháp luật về thuế của doanh nghiệp trong năm gần nhất khi có yêu cầu.
2. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Sở Ngoại vụ, các cơ quan hữu quan có trách nhiệm cung cấp thông tin bằng văn bản cho Sở Ngoại vụ để tổng hợp, tham mưu trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh. Nếu quá thời hạn trên mà chưa nhận được văn bản trả lời từ cơ quan hữu quan thì được xem như đồng ý.
Văn bản xác nhận của các cơ quan hữu quan về tình hình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp và những thông tin có liên quan của doanh nhân có giá trị trong thời hạn 03 (ba) tháng.