Điều 7. Quy định về đặt hàng, cấp phát thanh quyết toán cho các đơn vị quản lý thủy nông
1. Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện đặt hàng hàng năm với các đơn vị quản lý thủy nông theo hình thức:
- Ủy quyền cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện ký kết hợp đồng đặt hàng với các công ty KTCTTL hoặc có nhiệm vụ KTCTTL.
- Giao Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ủy quyền cho Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đối với các huyện), Phòng Kinh tế (đối với thành phố Phủ Lý) thực hiện ký kết hợp đồng đặt hàng với các HTX ngoài vùng.
a) Trình tự đặt hàng:
Căn cứ dự toán đã được Ủy ban nhân dân tỉnh giao, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện, thành phố ký kết hợp đồng đặt hàng với các đơn vị quản lý thủy nông theo phân cấp, đúng trình tự theo Thông tư 11/2009/TT-BTC ngày 21/01/2009 của Bộ Tài chính và các văn bản hiện hành quy định.
b) Thực hiện đặt hàng:
- Căn cứ các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết, các đơn vị quản lý thủy nông chủ động tổ chức thực hiện hợp đồng đã ký. Sau mỗi đợt tưới phải tổ chức nghiệm thu. Sau mỗi vụ phải tổ chức nghiệm thu tổng thể, làm cơ sở cho thanh lý hợp đồng cuối năm.
- Chế độ báo cáo định kỳ: 6 tháng và 9 tháng trong năm phải báo cáo kết quả thực hiện, dự kiến kế hoạch thực hiện các tháng còn lại đến 31/12. Kết thúc năm phải lập báo cáo kết quả thực hiện toàn năm thông qua kiểm tra tài chính và quyết toán tài chính năm.
2. Quy định hợp đồng đặt hàng đối với các HTX trong vùng tưới, tiêu chuyển tiếp (phần trong vùng các công ty quản lý).
- Trình tự hợp đồng:
Hàng năm, các công ty KTCTTL phối hợp với HTX trong vùng cùng quản lý hệ thống, rà soát, thống nhất diện tích tưới, tiêu, biện pháp công trình để xác định những diện tích phải tưới, tiêu chuyển tiếp. Các công ty KTCTTL ký kết hợp đồng phục vụ phần chuyển tiếp với các HTX trong vùng. Việc nghiệm thu kết quả tưới, tiêu từng đợt phải thực hiện theo quy định làm cơ sở cho nghiệm thu và thanh toán hợp đồng.
Việc nghiệm thu kết quả tưới, tiêu của HTX trong vùng phải có chữ ký của hộ dùng nước (hoặc trưởng thôn xóm đại diện). Cuối mỗi vụ lấy biên bản nghiệm thu kết quả tưới, tiêu có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã làm cơ sở cho nghiệm thu thanh quyết toán hợp đồng với công ty KTCTTL.
3. Cấp phát kinh phí cấp bù thủy lợi phí:
Ngân sách Nhà nước cấp bù kinh phí do miễn thủy lợi phí cho các đơn vị quản lý thủy nông bằng lệnh chi tiền.
+ Sau khi hợp đồng đặt hàng được ký, cơ quan đặt hàng tạm ứng 50% kính phí theo số hợp đồng đã ký vào giữa quý I.
+ Khi có báo cáo tình hình thực hiện hợp đồng, đầu quý III cơ quan đặt hàng ứng tiếp 40% kinh phí theo hợp đồng.
+ Số 10% còn lại sẽ được thanh toán sau khi hợp đồng được thanh lý. Trường hợp thiếu sẽ cấp bù vào kế hoạch năm sau.
4. Quyết toán:
Việc quyết toán thực hiện theo quy định hiện hành.
a) Về chứng từ:
- Đối với các công ty KTCTTL.
+ Có hợp đồng tưới nước và tiêu nước.
+ Có biên bản nghiệm thu kết quả tưới nước và tiêu nước từng vụ.
+ Có thanh lý hợp đồng.
- Đối với các đơn vị quản lý thủy nông là các HTXDVNN.
Có danh sách thống kê diện tích tưới, tiêu từng vụ theo các loại cây trồng do HTXDVNN trực tiếp phục vụ có chữ ký của hộ dùng nước (hoặc trưởng thôn, xóm đại diện), UBND xã xác nhận.
b) Phân cấp quyết toán:
- Ủy ban nhân dân huyện, thành phố chịu trách nhiệm quyết toán với ngân sách tỉnh qua Sở Tài chính về kinh phí cấp bù TLP của các HTX ngoài vùng.
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm quyết toán với ngân sách tỉnh qua Sở Tài chính về kinh phí cấp bù TLP cho các công ty KTCTTL. Việc kiểm tra quyết toán kinh phí cấp bù do miễn TLP hàng năm được thực hiện cùng với kiểm tra báo cáo tài chính hàng năm của các công ty.
- Hàng năm Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tài chính quyết toán kinh phí cấp bù TLP với ngân sách Trung ương qua Bộ Tài chính.