Điều 7. Phân chia lô ngoài thực địa, xác định diện tích lô
1. Phân chia lô xác định ranh giới:
Việc phân chia lô ngoài thực địa phải dựa vào các yếu tố tự nhiên: Địa hình, độ dốc, hướng phơi, loại thực bì… Lô phải nằm trên cùng một khoảnh, cùng một phương thức trồng.
a. Định vị lô:
Dùng bản đồ địa hình tỉ lệ 1/10.000 ra thực địa bổ sung các yếu tố địa hình, sông, suối, đường sá, trụ sở UBND, trường học, bệnh viện, chợ, nhà độc lập… Căn cứ vào bản đồ địa hình bằng phương pháp dốc đối diện (cần quan sát 2-3 góc độ để xác định rõ lô và khoanh vẽ chính xác). Trong quá trình định vị lô cần kết hợp với khoanh vẽ các diện tích cần trừ bỏ không trồng rừng được (Đá nổi, nhà, vườn…) diện tích nhỏ nhất cần trừ bỏ là 100m2
b. Đo đạc lô thiết kế:
Sử dụng địa bàn cầm tay, thước dây hoặc địa bàn 3 chân đo khép kín các lô, khi góc phương vị thay đổi 3º thì thay đổi đoạn đo, độ dài đoạn đo không quá 75m (Sai số cho phép đo địa bàn cầm tay là 1/20; địa bàn 3 chân là 1/100-1/200), phát đường ranh cắm mốc sao cho đường ranh giới lô và cọc mốc trên bản đồ trùng khớp với trên thực địa.
Mốc dùng cọc gỗ có kích thước 6 x 6 x 50 cm, trên cọc mốc ghi rõ tên lô bằng sơn đỏ. Mốc lô phải đóng ở đầu các đường ranh giới lô và chỗ giáp với các lô, khoảnh khác. Nơi có tảng đá, gốc cây to, có thể lợi dụng làm cọc mốc. Trường hợp đường ranh giới lô là đường thẳng kéo dài thì cứ cách 40 – 60m cắm một cọc mốc ở nơi dễ nhận biết.
2. Xác định diện tích lô
Dùng số liệu đo đạc vẽ lên trên giấy kẻ li ô vuông tỷ lệ 1/5000. Khi sai số đo vẽ lớn hơn 3% thì tiến hành bình sai theo phương pháp song song dần đều, can lô đã bình sai lên giấy kan và dùng lưới kẻ li (2mm x 2mm) để tính diện tích.
Diện tích được tính 2 lần (Lần 2 xoay 1 góc với lần 1 là 45º). Sai số giữa 2 lần tính không quá 0,01 ha. Tổng diện tích lô là kết quả trung bình cộng của 2 lần tính.
đo =
Trong đó:
ΣS là tổng diện tích
S1 là diện tích tính lần 1
S2 là diện tích tính lần 2