Điều 5. Các Hội đồng khoa học và công nghệ.
1. Hội đồng Khoa học của Uỷ ban Dân tộc hoạt động theo nhiệm kỳ 2 năm (áp dụng theo Quyết định số 1077/1997/QĐ-TTg ngày 12/12/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia và Quy chế tổ chức hoạt động của Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia đã phê duyệt tại Quyết định số 1078/1997/QĐ-TTg ngày 12/12/1997 của Thủ tướng Chính phủ). Hội đồng Khoa học của Uỷ ban Dân tộc có quy chế hoạt động riêng.
2. Hội đồng xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ là Hội đồng chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trong việc tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ, thực hiện theo quy định tại điều 19 của Luật Khoa học và Công nghệ, điều 15, 22 và 25 của Nghị định số 81/2002/NĐ-CP và vận dụng Quyết định số 07/2003/QĐ-BKHCN ngày 3/4/2003 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành “Quy định về việc xác định các đề tài khoa học và công nghệ và các dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước” và Quyết định số 08/2003/QĐ-BKHCN ngày 3/4/2003 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành “Quy định về phương thức làm việc của Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn xác định các đề tài khoa học và công nghệ và các dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước”.
Hội đồng xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ được thành lập cố định hàng năm.
3. Hội đồng tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là Hội đồng chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trong việc tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án, thực hiện theo quy định tại điều 20 của Luật Khoa học và Công nghệ, điều 16, 23 và 25 của Nghị định số 81/2002/NĐ-CP và vận dụng Quyết định số 16/2003/QĐ-BKHCN ngày 18/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành “Quy định về tuyển chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước” và Quyết định số 17/2003/QĐ-BKHCN ngày 18/7/2003 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành “Quy định về phương thức làm việc của Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn tuyển chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước”.
Hội đồng tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ tự giải tán sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
4. Hội đồng thẩm định đề cương đề tài, dự án là Hội đồng thực hiện nhiệm vụ tư vấn để Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban có cơ sở ra quyết định phê duyệt giao nhiệm vụ cho tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án triển khai thực hiện.
Hội đồng thẩm định đề cương đề tài, dự án được thành lập đối với từng đề tài, dự án cụ thể và tự giải tán sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
5. Hội đồng đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Hội đồng đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là Hội đồng chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trong việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, thực hiện theo quy định tại điều 24 của Luật Khoa học và Công nghệ, các điều 21, 24 và 25 của Nghị định số 81/2002/NĐ-CP và vận dụng Quyết định số 13/2004/QĐ-BKHCN ngày 25/5/2004 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành “Quy định đánh giá nghiệm thu đề tài khoa học và công nghệ cấp Nhà nước”.
Hội đồng đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được thành lập đối với từng đề tài, dự án cụ thể và tự giải tán sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Các Hội đồng khoa học và công nghệ của Uỷ ban Dân tộc do Vụ Hợp tác quốc tế đề xuất trình Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc quyết định thành lập.