Điều 11. Nội dung chế độ báo cáo và hệ thống biểu mẫu báo cáo thực hiện Chương trình, Dự án
1. Các cấp báo cáo thực hiện các Chương trình, Dự án bao gồm:
a) Cấp Chương trình, Dự án: Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chủ trì lập báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình, Dự án báo cáo Lãnh đạo Tổng cục qua Vụ Hợp tác quốc tế. Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các Bộ ngành liên quan và nhà tài trợ theo quy định;
b) Cấp Tổng cục: Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Kế hoạch tài chính tổng hợp báo cáo từ các Ban quản lý dự án, lập báo cáo tổng hợp về kết quả vận động, đánh giá tình hình thực hiện các Chương trình, Dự án thuộc thẩm quyền quản lý trình Lãnh đạo Tổng cục và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
2. Chế độ báo cáo và mẫu biểu báo cáo:
a) Báo cáo về tình hình thực hiện các Chương trình, Dự án thực hiện theo quy định và hướng dẫn cụ thể tại Quyết định số 803/2007/QĐ-BKH ngày 30 tháng 07 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Chế độ báo cáo tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA.
b) Báo cáo về chế độ quản lý tài chính theo Thông tư số 82/2007/TT-BTC ngày 12/7/2007 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với viện trợ không hoàn lại của nước ngoài thuộc nguồn thu ngân sách nhà nước và Thông tư số 108/2007/TT-BTC ngày 7 tháng 9 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với viện trợ không hoàn lại của nước ngoài thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước như sau:
- Hàng năm các chủ dự án, đơn vị được giao quản lý dự án gửi báo cáo kế hoạch tài chính, dự toán thu - chi ngân sách (bao gồm cả vốn viện trợ và vốn đối ứng) đã được phê duyệt cho Chủ tài khoản, Vụ Hợp tác quốc tế và Vụ Kế hoạch tài chính.
- Sử dụng các nguồn tài chính của dự án theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt hàng năm. Hàng tháng, hoặc hàng quý các đơn vị được giao quản lý dự án tập hợp các chứng từ chi tiêu, thanh toán để lập các “Bảng kê tổng hợp chi tiêu, thanh toán từ nguồn viện trợ bằng tiền” theo từng “Tờ khai xác nhận viện trợ” và gửi qua Kho bạc (Ngân hàng) nơi giao dịch để xác nhận tổng số tiền chi tiêu theo bảng kê, sau đó gửi các tài liệu này cho Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Kế hoạch tài chính để tổng hợp báo cáo cấp trên.
- Định mức chi tiêu thực hiện theo Thông tư số 219/2009/TT-BTC ngày 19 tháng 11 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định “Một số định mức chi tiêu áp dụng cho các dự án/chương trình có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)”.
Nếu Nhà tài trợ có quy định nội dung và định mức chi thì thực hiện theo cam kết ký.
- Báo cáo quyết toán thực hiện theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp; thời hạn như sau:
+ Báo cáo quý chậm nhất 15 ngày sau khi hết quý;
+ Báo cáo năm chậm nhất vào ngày 31/01 năm sau;
+ Báo cáo kết thúc toàn bộ Chương trình, Dự án viện trợ, chậm nhất 6 tháng sau khi kết thúc chương trình, dự án;
Các báo cáo trên gửi về Vụ Kế hoạch tài chính, Vụ Hợp tác quốc tế.
- Đối với các dự án mới được thành lập, trong thời hạn 15 ngày kể từ khi có quyết định thành lập thì Ban quản lý dự án gửi Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Kế hoạch tài chính các nội dung sau:
+ Quyết định thành lập Ban quản lý dự án;
+ Bản tóm tắt Hiệp định ký kết hoặc dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và kế hoạch triển khai dự án;
+ Tổng dự toán của dự án; phải nêu rõ: vốn tài trợ, vốn Việt Nam đóng góp (vốn đối ứng).
3. Kỳ báo cáo:
a) Các Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chủ trì lập báo cáo hàng quý về tiến độ thực hiện dự án, tiến độ giải ngân trình Lãnh đạo Tổng cục qua Vụ Hợp tác quốc tế và Vụ Kế hoạch tài chính.
b) Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Kế hoạch tài chính lập báo cáo tổng hợp 6 tháng và ca năm về tình hình thực hiện, tiến độ giải ngân của các Chương trình, Dự án trình Lãnh đạo Tổng cục và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.