vanban.org

Điều 10. Theo dõi, đánh giá Chương trình, Dự án — Quyết định 263/QĐ-TCTK

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 05/05/2010 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Tổng cục Thống kê Ban hành 05/05/2010 Hiệu lực 05/05/2010 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 263/QĐ-TCTK › Chương 4 › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Theo dõi, đánh giá Chương trình, Dự án

1. Theo dõi Chương trình, Dự án là hoạt động thường xuyên và định kỳ cập nhật toàn bộ các thông tin liên quan đến tình hình thực hiện Chương trình, Dự án; Phát hiện kịp thời các khó khăn, vướng mắc có thể ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án để có đề xuất và thực thi các biện pháp cần thiết để khắc phục.

2. Đánh giá Chương trình, Dự án là hoạt động định kỳ, xem xét toàn diện, có hệ thống và khách quan về tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, tác động và mức độ bền vững của Chương trình, Dự án để có những điều chỉnh cần thiết và rút ra những bài học kinh nghiệm để áp dụng cho giai đoạn thực hiện tiếp theo và áp dụng cho các Chương trình, Dự án khác.

3. Vụ Hợp tác quốc tế phối hợp với Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chủ trì đánh giá Chương trình, Dự án nhất là đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết thúc dự án bằng hình thức đánh giá cùng nhà tài trợ. Việc thuê tư vấn độc lập đánh giá chỉ tiến hành trong những trường hợp cần thiết và do Lãnh đạo Tổng cục quyết định.

4. Công tác đánh giá được tiến hành theo các hình thức sau:

4.1. Đánh giá ban đầu: Đánh giá ban đầu phải được tiến hành ngay sau khi bắt đầu thực hiện Chương trình, Dự án, Chủ dự án giao Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chủ trì hoặc thuê tư vấn độc lập thực hiện đánh giá ban đầu. Đánh giá ban đầu tập trung vào việc xem xét tình hình thực tế của Chương trình, Dự án sau khi khởi động theo các nội dung sau:

a) Công tác chuẩn bị thực hiện, tổ chức, huy động các nguồn lực của Ban quản lý dự án để bảo đảm việc thực hiện Chương trình, Dự án theo đúng mục tiêu và kế hoạch đề ra;

b) Những vấn đề phát sinh so với văn kiện Chương trình, Dự án đã được phê duyệt;

c) Phương hướng giải quyết các khó khăn, vướng mắc gặp phải;

d) Phát sinh do các yếu tố khách quan.

Kết quả đánh giá ban đầu được sử dụng để rà soát, cập nhật kế hoạch tổng thể thực hiện Chương trình, Dự án và xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện Chương trình, Dự án cho năm đầu tiên.

4.2. Đánh giá giữa kỳ: Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chủ trì tổ chức thuê chuyên gia hoặc tổ chức tư vấn độc lập tiến hành đánh giá giữa kỳ vào giữa thời gian thực hiện Chương trình, Dự án hoặc sau khi kết thúc một giai đoạn đối với Chương trình, Dự án gồm nhiều giai đoạn. Đánh giá giữa kỳ gồm các nội dung sau:

a) Tính phù hợp của kết quả thực hiện Chương trình, Dự án với mục tiêu đề ra;

b) Mức độ hoàn thành của Chương trình, Dự án cho đến thời điểm đánh giá so với kế hoạch thực hiện Chương trình, Dự án đã được phê duyệt;

c) Các khuyến nghị, kể cả việc điều chỉnh thiết kế, mục tiêu Chương trình, Dự án, nếu cần;

d) Các bài học về xây dựng, thực hiện và quản lý các Chương trình, Dự án.

Chậm nhất trong vòng 01 tháng kể từ ngày nhận được báo cáo đánh giá giữa kỳ của tư vấn, chủ dự án phải gửi đến cơ quan chủ quản và nhà tài trợ báo cáo đánh giá giữa kỳ do nhà tư vấn lập và báo cáo phản hồi đánh giá giữa kỳ của chủ dự án, trong đó phân tích các phát hiện, các vấn đề và các đề xuất của báo cáo đánh giá, nêu rõ các biện pháp xử lý, giải quyết vấn đề, các hoạt động cần thiết đáp ứng các đề xuất, các bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện Chương trình, Dự án.

4.3. Đánh giá kết thúc: Ban quản lý dự án tổ chức thuê chuyên gia hoặc tổ chức tư vấn độc lập tiến hành đánh giá kết thúc Chương trình, Dự án ngay sau khi kết thúc thực hiện và phải hoàn thành chậm nhất trong vòng 06 tháng kể từ ngày kết thúc Chương trình, Dự án được quy định tại văn kiện Chương trình, Dự án. Đánh giá kết thúc tập trung vào các nội dung sau:

a) Thiết kế Chương trình, Dự án;

b) Quá trình thực hiện Chương trình, Dự án;

c) Hoạt động quản lý Chương trình, Dự án;

d) Kết quả thực hiện các mục tiêu Chương trình, Dự án;

đ) Các nguồn lực đã huy động cho Chương trình, Dự án;

e) Các lợi ích do dự án mang lại cho những người thụ hưởng và những người tham gia;

g) Các tác động của Chương trình, Dự án;

h) Tính bền vững của Chương trình, Dự án và các yếu tố để bảo đảm tính bền vững của Chương trình, Dự án;

i) Các bài học rút ra sau quá trình thực hiện Chương trình, Dự án;

k) Các khuyến nghị cần thiết.

Báo cáo đánh giá kết thúc do tư vấn lập và văn bản nhận xét của chủ dự án phải được báo cáo và gửi đến cơ quan chủ quản và nhà tài trợ.

Báo cáo đánh giá kết thúc của tư vấn là cơ sở tham khảo để Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chủ trì và chủ dự án xây dựng báo cáo kết thúc Chương trình, Dự án.

4.4. Đánh giá tác động: (Đánh giá sau dự án)

Đánh giá tác động do Tổng cục chủ trì hoặc thuê chuyên gia, tổ chức tư vấn độc lập thực hiện. Đánh giá tác động được tiến hành trong vòng 03 năm kể từ ngày đưa Chương trình, Dự án vào khai thác, sử dụng. Nội dung đánh giá tác động gồm:

a) Thực trạng kinh tế, kỹ thuật vận hành của Chương trình, Dự án;

b) Tác động tới các mặt kinh tế - chính trị - xã hội của Chương trình, Dự án;

c) Tính bền vững của Chương trình, Dự án;

d) Các bài học thành công và thất bại của các khâu thiết kế - thực hiện - vận hành Chương trình, Dự án.

4.5. Đánh giá đột xuất:

Đánh giá đột xuất được tiến hành trong những trường hợp có những vướng mắc, khó khăn, tác động phát sinh ngoài dự kiến trong quá trình thực hiện Chương trình, Dự án.

Nội dung đánh giá đột xuất gồm:

a) Xác định tình trạng và bản chất những phát sinh ngoài dự đoán;

b) Ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của những phát sinh đến việc thực hiện Chương trình, Dự án, đến khả năng thực hiện mục tiêu đã đề ra;

c) Kiến nghị các biện pháp can thiệp, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện và thời hạn hoàn thành.

Báo cáo đánh giá đột xuất là cơ sở để cơ quan chủ quản can thiệp kịp thời, triển khai các biện pháp hỗ trợ cần thiết để ngăn ngừa sự thất bại của Chương trình, Dự án.

Trong những trường hợp cần thiết, Vụ Hợp tác quốc tế và Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chủ trì trình Lãnh đạo Tổng cục chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và nhà tài trợ tổ chức đánh giá đột xuất.

5. Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chủ trì có trách nhiệm thường xuyên theo dõi Chương trình, Dự án theo các nội dung:

a) Tiến độ thực hiện;

b) Khối lượng, chất lượng, chi phí, giải ngân;

c) Giám sát thực hiện theo kế hoạch dự án, điều chỉnh kế hoạch nếu cần thiết;

d) Tình hình thực hiện thông tin báo cáo;

e) Kết quả giải quyết khó khăn, vướng mắc.