Điều 5. Luân chuyển hồ sơ
1. UBND cấp xã chuyển hồ sơ đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thụ lý giải quyết và nhận kết quả để giao cho người sử dụng đất thông qua Bộ phận tiếp nhận hồ sơ của UBND cấp huyện.
2. Bộ phận tiếp nhận hồ sơ cấp huyện chuyển hồ sơ đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thụ lý giải quyết và nhận lại kết quả để giao cho người sử dụng đất hoặc UBND cấp xã (đối với trường hợp nộp hồ sơ tại xã).
3. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai chuyển hồ sơ đến UBND cấp xã để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.
4. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thụ lý, kiểm tra xác nhận và chuyển hồ sơ đủ điều kiện cấp giấy (dạng giấy và dạng số) đến Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện kiểm tra đối với các trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu để trình UBND cấp huyện ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (chuyển hồ sơ (dạng giấy và dạng số) đến Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra, xác nhận để trình Sở Tài nguyên và Môi trường ký Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thẩm quyền giải quyết.
5. Sở Tài nguyên và Môi trường trình UBND tỉnh ký quyết định công nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất do Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra đối với các trường hợp chưa được UBND tỉnh ủy quyền.
6. Sau khi có kết quả (Giấy chứng nhận đã ký) Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc tiếp theo và trao giấy chứng nhận cho người sử dụng đất là tổ chức; chuyển hồ sơ (nếu là dạng giấy) và giấy chứng nhận đã ký cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đối với người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân để thực hiện các công việc tiếp theo và chuyển kết quả cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp huyện.