vanban.org

Điều 8. Hỗ trợ đất sản xuất. — Quyết định 26/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 08/04/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 08/04/2020 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 08/2020/QĐ-UBND · 08/04/2020
Thái Nguyên Ban hành 09/09/2010 Hiệu lực 19/09/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 26/2010/QĐ-UBND Ban hành quy định một số nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định số 1592/QĐ-TTG ngày 12/10/2009 của thủ tướng chính phủ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên · 26/2010/QĐ-UBND
08/04/202008/2020/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 19/09/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 26/2010/QĐ-UBND › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Hỗ trợ đất sản xuất.

1. Hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất:

a) Định mức đất sản xuất cho mỗi hộ là 0,15ha đất ruộng lúa nước 2 vụ, hoặc 0,25ha đất ruộng lúa nước 01 vụ, hoặc 0,5ha đất nương, rẫy hoặc 0,5ha đất nuôi, trồng thuỷ sản.

Những hộ chưa có hoặc chưa đủ định mức đất sản xuất theo quy định trên thì được hỗ trợ phần đất sản xuất còn thiếu.

Trường hợp hộ gia đình có từ 2 loại đất trở lên, nhưng mỗi loại đều chưa đủ mức quy định thì tính quy đổi về đất ruộng lúa nước 01 vụ (theo tỷ lệ 0,15ha đất ruộng lúa nước 2 vụ = 0,25ha đất ruộng lúa nước 01 vụ = 0,5ha đất nương, rẫy = 0,5ha đất nuôi, trồng thuỷ sản), sau đó cộng lại, nếu tổng chưa đủ mức quy định thì tuỳ theo mức độ thiếu để xem xét hỗ trợ.

b) Mức hỗ trợ:

- Ngân sách trung ương cấp 10 triệu đồng/hộ.

- Ngân sách tỉnh hỗ trợ 02 triệu đồng/hộ.

- Được vay tín dụng với mức không quá 10 triệu đồng/hộ trong thời gian 5 năm với mức lãi suất bằng 0%.

Những hộ không tạo đủ quỹ đất sản xuất theo định mức trên nhưng có phương án sản xuất tốt, đảm bảo đời sống của hộ thì vẫn được nhận đủ mức hỗ trợ trên.

c) Quỹ đất sản xuất để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, bao gồm các loại đất: đất công Nhà nước thu hồi theo quy hoạch, đất thu hồi từ các doanh nghiệp, các ban quản lý rừng đang quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả, thu hồi do được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền, đất Nhà nước cho thuê hoặc cho mượn, đất chưa sử dụng, đất thu hồi từ các doanh nghiệp sử dụng sai mục đích hoặc đã giải thể, đất khai hoang, phục hoá, đất được hiến, mua, chuyển nhượng tự nguyện, người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất, cá nhân sử dụng đất chết mà không có thừa kế...; việc thu hồi phải thực hiện theo đúng Luật Đất đai và các quy định hiện hành.

2. Những hộ thiếu đất sản xuất, nhưng địa phương không còn khả năng tạo quỹ đất để cấp thì chuyển sang các nội dung hỗ trợ sau:

a) Giao khoán bảo vệ và trồng rừng:

- Hộ gia đình không có hoặc thiếu đất sản xuất so với định mức tại Quy định này, có nhu cầu nhận khoán bảo vệ hoặc trồng rừng thì được chính quyền địa phương, tuỳ theo khả năng về quỹ đất để giao khoán bảo vệ rừng hoặc đất để trồng rừng cho các hộ tương ứng với phần đất sản xuất thiếu so với định mức quy định.

- Định mức diện tích giao khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình tối đa không quá 30 ha/ hộ hoặc diện tích đất giao trồng rừng tối đa không quá 5 ha/ hộ.

- Mức hỗ trợ:

+ Đối với hộ nhận giao khoán bảo vệ rừng được ngân sách nhà nước hỗ trợ tiền công bảo vệ rừng là: 200.000 đồng /ha/năm.

+ Đối với hộ nhận đất trồng rừng được hưởng toàn bộ sản phẩm khi khai thác và được ngân sách nhà nước hỗ trợ lần đầu vật tư, giống cây lâm nghiệp theo định mức hỗ trợ trồng rừng sản xuất của tỉnh hàng năm.

- Quy trình giao khoán bảo vệ rừng thực hiện theo văn bản hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. b) Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề:

- Đối với những hộ có lao động nhưng không có nhu cầu học nghề mà có nhu cầu vốn để mua sắm nông cụ, máy móc làm dịch vụ cho các hộ sản xuất nông nghiệp hoặc vốn để làm các ngành nghề khác được ngân sách trung ương hỗ trợ 3 triệu đồng/hộ, ngân sách tỉnh hỗ trợ 0,6 triệu đồng/hộ và được vay vốn tín dụng tối đa không quá 10 triệu đồng/hộ trong thời gian 3 năm với mức lãi suất bằng 0%.

- Đối với những lao động có nhu cầu học nghề để chuyển đổi ngành nghề được ngân sách trung ương hỗ trợ tối đa không quá 3 triệu đồng/lao động, ngân sách tỉnh hỗ trợ tối đa không quá 0,6 triệu đồng/lao động. Mức hỗ trợ cụ thể cho từng lao động do Uỷ ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào học phí, ngành nghề, thời gian học thực tế của lao động và các quy định hiện hành để thẩm định, phê duyệt.

- Đối với những lao động đã được hỗ trợ học nghề để chuyển đổi ngành nghề, sau khi học nghề nếu có nhu cầu vốn để mua sắm nông cụ, máy móc làm dịch vụ và các ngành nghề khác thì tiếp tục được hỗ trợ 3 triệu đồng/hộ và được vay vốn tối đa không quá 10 triệu đồng/hộ trong thời gian 3 năm, với mức lãi suất bằng 0% để kinh doanh.

Những hộ, lao động chuyển đổi ngành nghề, ngoài việc được hưởng các chính sách nêu trên còn được hưởng các chính sách ưu đãi liên quan về dạy nghề theo quy định hiện hành.

c) Hỗ trợ đi xuất khẩu lao động:

- Đối với lao động đi xuất khẩu được ngân sách trung ương hỗ trợ kinh phí học nghề 3 triệu đồng/lao động, ngân sách tỉnh hỗ trợ 0,6 triệu đồng/lao động; mức hỗ trợ cụ thể căn cứ vào học phí, ngành nghề và thời gian học thực tế của lao động để xem xét.

- Lao động đi xuất khẩu, ngoài hỗ trợ kinh phí học nghề, trước khi đi xuất khẩu còn được vay vốn tín dụng tối đa 30 triệu đồng/người; mức vay, thời gian, lãi xuất cho vay cụ thể căn cứ vào nhu cầu và khả năng thực tế của từng đối tượng theo hướng dẫn của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh.