Điều 8. Nhiệm vụ và thẩm quyền của Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập cấp tỉnh
1. Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự được:
a) Quyết định thành lập hoặc giải thể, tổ chức lại các khoa, phòng và tổ chức khác trực thuộc trên cơ sở phương án đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt; quyết định quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị trừ những tổ chức sự nghiệp mà pháp luật quy định thẩm quyền này thuộc về Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh;
b) Xây dựng đề án vị trí việc làm hoặc đề án điều chỉnh vị trí việc làm của đơn vị gửi về Sở Nội vụ thẩm định trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt;
c) Tổng hợp, báo cáo về vị trí việc làm, số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp của đơn vị gửi về Sở Nội vụ chậm nhất là ngày 30 tháng 11 hàng năm.
2. Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự ngoài các nhiệm vụ, thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều này còn được quyền sau:
a) Quyết định sắp xếp, điều chỉnh tổ chức bộ máy của đơn vị; thành lập, sáp nhập, giải thể trừ những tổ chức sự nghiệp mà pháp luật quy định thẩm quyền này thuộc về Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức trực thuộc phù hợp quy định pháp luật;
b) Quyết định số lượng người làm việc trên cơ sở đề án vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp được Bộ Nội vụ phê duyệt và quản lý viên chức theo thẩm quyền được giao;
c) Thực hiện việc quản lý vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc của đơn vị đúng theo quy định của pháp luật, đồng thời báo cáo về Uỷ ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nội vụ) theo dõi hàng năm.