vanban.org

Điều 11. Quyền lợi của bên nhận khoán — Quyết định 25/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/12/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/12/2023 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 22/2023/QĐ-UBND · 13/12/2023
Kiên Giang Ban hành 28/07/2011 Hiệu lực 07/08/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND Ban hành quy định về trồng rừng, bảo vệ rừng và sử dụng rừng phòng hộ ven biển tỉnh Kiên Giang · 25/2011/QĐ-UBND
25/12/202322/2023/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 07/08/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 25/2011/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Quyền lợi của bên nhận khoán

Các tập thể và hộ gia đình, cá nhân (gọi tắt là bên nhận khoán) sử dụng đất lâm nghiệp có các quyền lợi sau đây:

1. Được cấp hồ sơ giao khoán rừng và đất lâm nghiệp theo quy định của nhà nước, thời gian 50 năm (năm mươi năm).

2. Được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích đất lâm nghiệp được giao khoán.

3. Được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong việc trồng rừng và bảo vệ rừng.

4. Trong trường hợp nhà nước cần sử dụng vào mục đích quốc phòng, dân sinh, xã hội, được bồi hoàn thành quả lao động, giá trị đầu tư trên đất lâm nghiệp được giao khoán theo hiện trạng rừng, đất rừng và thời giá quy định.

5. Được thừa kế quyền sử dụng rừng PHVB theo quy định của pháp luật về thừa kế.

6. Đối với các trường hợp: Chuyển đi làm nghề khác hoặc không còn khả năng quản lý, hộ nhận khoán trả lại diện tích đất cho bên giao khoán thì được hoàn trả hoặc đền bù tài sản đã đầu tư trên đất theo quy định của Nhà nước.

7. Đối với đai rừng phòng hộ chính: Đóng vai trò chính trong việc phòng hộ và lấn biển bên nhận khoán không được phép tỉa thưa hay khai thác, nuôi trồng thủy sản trong quá trình nhận khoán.

8. Đối với đai rừng phòng hộ phụ:

a) Được tận thu các lâm sản bao gồm: Trái giống, củi, cây chết khô, các nguồn lợi thủy hải sản dưới tán rừng theo hướng dẫn của bên giao khoán.

b) Khi rừng trồng khép tán (5-6 năm) được phép tỉa thưa và khi cây rừng đến tuổi thành thục được khai thác chọn. Thời gian chặt tỉa thưa và khai thác chọn theo biểu sau:

Biểu: Tỉa thưa và khai thác chọn

Lần Tuổi rừng Mật độ trồng cây/ha Mật độ khi thực hiện cây/ha Sinh trưởng Cường độ tỉa %

Số cây

 chừa lại

Dcm Hm
Lần 1 (tỉa thưa) 5-6 10.000-20.000 9.000-18.000 2,5-3 4-5 30 6.300-12.600
Lần 2 (khai thác chọn) 10-15   6.000-12.000 6-6,5 9-10 20 5.000

Mật độ 5.000 cây/ha là mật độ cuối cùng còn lại, đây là vốn rừng thuộc tài sản quốc gia, tuyệt đối không được tác động dưới bất kỳ hình thức nào để đảm bảo khả năng phòng hộ lâu dài của rừng (lưu ý: Mật độ cây chừa lại được phân bố đều trên toàn bộ diện tích 70%).

c) Hộ nhận khoán được hưởng 100% sản phẩm tỉa thưa theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ.

d) Sản phẩm khai thác chọn sau khi trừ các khoản chi phí, còn lại sẽ được chia theo tỷ lệ: Bên nhận khoán 80%, bên giao khoán 20% theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ.

đ) Trong trường hợp bên nhận khoán tự bỏ vốn trồng rừng, chăm sóc rừng trồng thì được hưởng 100% sản phẩm khai thác chọn theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ.

e) Bên nhận khoán được phép sử dụng 30% diện tích đất nhận khoán chưa có rừng để kết hợp nuôi trồng thủy sản và trồng hoa màu nhưng không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên rừng. Trường hợp đã trồng rừng trên 70% diện tích đất nhận khoán thì được khai thác rừng trồng trên phần diện tích rừng tăng thêm để thực hiện quy hoạch 30% nhưng phải đảm bảo diện tích rừng trồng còn lại đạt tỷ lệ 70%.

f) Hàng năm được phép nạo vét trên phần diện tích quy định để cải tạo mương nuôi nhưng tuyệt đối không gây sạt lở, không làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của rừng hiện hữu, đảm bảo giữ được ổn định 70% diện tích rừng nhận khoán.

g) Những diện tích rừng bị phá đi để nuôi tôm trước đây, nếu chưa đủ 70% rừng trên đất nhận khoán thì hộ phải tự trồng để đảm bảo trồng đủ tỷ lệ 70% diện tích rừng. Các hộ có đủ điều kiện trồng lại rừng đảm bảo 70%, sau khi đã ký cam kết với Ban Quản lý mà không thực hiện thì không giải quyết việc nạo vét vuông nuôi hàng năm, tỉa thưa, khai thác rừng, ngoài ra còn bị xử lý hành chính đến thu hồi hợp đồng nhận khoán.

h) Bên nhận khoán được phép sử dụng 200m2 đất nhận khoán làm nhà cấp 4 để ở, trông coi và quản lý rừng. Khi sử dụng đất này để làm nhà phải được bên giao khoán thỏa thuận bằng văn bản và phải đăng ký với Ủy ban nhân dân xã sở tại. Không được làm nhà trong phần hành lang chỉ giới bảo vệ đê biển, hành lang bảo vệ lộ giới (cách Quốc lộ 80 và Tỉnh lộ 11 là 25m). Riêng ở khu quy hoạch đô thị Ba Hòn (khu lâm viên cây xanh), hộ nhận khoán chỉ được làm nhà nằm ở phía sau hậu của phần đất nhận khoán để quản lý bảo vệ rừng.

i) Mọi hoạt động trồng rừng, khai thác chọn, tỉa thưa, nạo vét mương nuôi phải có kế hoạch, được sự chấp thuận của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Đồng thời, chịu sự giám sát của Ban Quản lý rừng PHVB, chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm địa bàn.