Điều 10. Quản lý bảo vệ rừng
1. Rừng và đất rừng được giao để trồng và quản lý bảo vệ phải đúng theo quy hoạch đã được phê duyệt, phải cắm mốc ngoài thực địa, xác định vị trí trên bản đồ và tính được diện tích.
2. Nhằm tăng cường bảo vệ cho đai rừng phòng hộ ven biển, nhất là giai đoạn rừng non trong quá trình lấn biển, nghiêm cấm tất cả các hoạt động đánh bắt nuôi trồng thủy sản trong phạm vi bãi bồi, bãi lở đã được quy hoạch làm đai rừng phòng hộ ven biển.
3. Đối với đai rừng phòng hộ chính: Nghiêm cấm tất cả mọi hình thức chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng, đào đắp, nạo vét kinh mương để nuôi trồng thủy sản.
4. Đối với đai rừng phòng hộ phụ: Việc xây dựng hệ thống thủy lợi hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng khác phải có phương án thiết kế cụ thể và phải được sự chấp thuận của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
5. Để bảo vệ rừng có hiệu quả, các đai rừng phòng hộ được phân chia thành các khu vực theo ranh giới hành chính. Tùy điều kiện đi lại và số hộ của từng khu vực mà thành lập Tổ quản lý bảo vệ rừng (theo tổ tự quản hoặc theo ấp) để thuận tiện trong việc kiểm tra, quản lý bảo vệ rừng. Tổ trưởng phải do nhân dân bầu ra có uy tín, có năng lực, gương mẫu trong công tác trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng. Ban Quản lý có rừng PHVB hướng dẫn các Tổ xây dựng Quy ước bảo vệ rừng, xây dựng kế hoạch trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ và sử dụng rừng có hiệu quả.