Điều 8. Kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật
1. Khi phát hiện nội dung của văn bản được kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra văn bản phải báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất xử lý thông qua "Phiếu kiểm tra văn bản có dấu hiệu pháp luật" theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP
2. Lập hồ sơ về văn bản có nội dung ữái pháp luật ứình lãnh đạo cơ quan. Hồ sơ bao gồm: Văn bản được kiểm tra, văn bản làm cơ sờ pháp lý để xác đinh nôi dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra, phiếu kiểm tra văn bản và các tài liệu có liên quan khác (nếu có).
3. Lãnh đạo cơ quan kiểm tra văn bản thông báo theo thẩm CỊuyền hoặc báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền để thông báo nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản được kiểm ưa để cơ quan, người đã ban hành văn bản đó tự kiểm tra, xử lý, thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản theo quy định của pháp luật.
a) Văn bản thông báo cần phải có các nội dung cơ bản sau đây: Tên văn bản được kiểm tra; tên và nội dung văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm ừa; ý kiến về nội dung trái pháp luật của vãn bản được kiểm tra; yêu cầu cơ quan, người đã ban hành văn bản đó tự kiểm ừa, xử lý và thông báo kết quả tự kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
b) Trường hợp khi kiểm tra phát hiện nội dung của văn bản được kiểm tra, mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên đã ban hành hoặc không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội thì trong văn bản thông báo cũng kiến nghị cơ quan, người đã ban hành văn bản đó nghiên cứu, rà soát xử lý các nội dung không còn phù hợp đó theo quy định của pháp luật.