vanban.org

Điều 7. Tổ chức được giao thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất — Quyết định 2462/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 07/11/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 07/11/2011 Thay thế: 26/2011/QĐ-UBND · 28/10/2011
Hải Dương Ban hành 13/07/2006 Hiệu lực 23/07/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 5 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 26/2011/QĐ-UBND V/v Ban hành Quy chế bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương · 26/2011/QĐ-UBND
Quyết định số 2462/2006/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương · 2462/2006/QĐ-UBND
07/11/201126/2011/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 23/07/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 2462/2006/QĐ-UBND › Chương I › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Tổ chức được giao thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất

Tổ chức được thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất (gọi tắt là Tổ chức đấu giá) là các tổ chức của Nhà nước có chức năng, được giao nhiệm vụ đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo quy định tại Quy chế này bao gồm:

1. Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản (thuộc Sở Tư pháp) và các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất cho nhân dân xây dựng nhà ở thuộc thành phố Hải Dương, thị trấn, ven đường quốc lộ, tỉnh lộ.

2. Hội đồng đấu giá cấp tỉnh

 a) Hội đồng đấu giá cấp tỉnh do Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập cho từng trường hợp cụ thể trên cơ sở đề nghị của Sở Tài chính. Thành phần gồm: Đại diện Lãnh đạo UBND tỉnh là Chủ tịch Hội đồng và các thành viên đại diện các sở, ngành: Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng,  Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế, Kho bạc nhà nước tỉnh và UBND cấp huyện nơi có thửa đất đấu giá. Trường hợp lãnh đạo UBND tỉnh không đảm nhiệm chức danh Chủ tịch Hội đồng đấu giá thì uỷ quyền Giám đốc Sở Tài chính làm Chủ tịch Hội đồng.

b) Hội đồng đấu giá cấp tỉnh có nhiệm vụ:

- Tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thực hiện các dự án đầu tư xây dựng (xây dựng nhà ở để bán hoặc cho người thuê trừ trường hợp đất xây dựng nhà chung cư cao tầng cho công nhân khu công nghiệp; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê; sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng kết cấu hạ tầng; sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh).

- Tổ chức đấu giá khi Nhà nước cho thuê đất đối với tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài.

3. Hội đồng đấu giá cấp huyện:

a) Hội đồng đấu giá cấp huyện do Chủ tịch UBND huyện quyết định thành lập trên cơ sở đề nghị của Phòng Tài chính- Kế hoạch, thành phần gồm: Đại diện Lãnh đạo UBND huyện là Chủ tịch Hội đồng, các thành viên là đại diện các phòng ban chức năng của huyện như thành phần Hội đồng đấu giá cấp tỉnh và đại diện UBND xã có thửa đất đấu giá.

b) Hội đồng đấu giá cấp huyện có nhiệm vụ:

- Tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất trên địa bàn huyện, thành phố.

- Tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh cho hộ gia đình, cá nhân người Việt Nam trong nước.

 - Tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất cho nhân dân xây dựng nhà ở tại các khu vực còn lại trên địa bàn huyện. Trường hợp UBND huyện không thành lập Hội đồng đấu giá cấp huyện thì có thể ký hợp đồng với các đơn vị có chức năng đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện nhiệm vụ này.

4.  Hội đồng đấu giá cấp xã:

 a) Hội đồng đấu giá cấp xã do Chủ tịch UBND xã quyết định thành lập, thành phần gồm: Đại diện Lãnh đạo UBND xã là Chủ tịch Hội đồng và các thành viên là đại diện các bộ phận chức năng của xã.

b) Hội đồng đấu giá cấp xã có nhiệm vụ tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất khi UBND xã cho thuê đất đối với đất thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản.