vanban.org

Điều 12. Tổ chức phiên đấu giá — Quyết định 2462/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 07/11/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 07/11/2011 Thay thế: 26/2011/QĐ-UBND · 28/10/2011
Hải Dương Ban hành 13/07/2006 Hiệu lực 23/07/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 5 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 26/2011/QĐ-UBND V/v Ban hành Quy chế bán đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương · 26/2011/QĐ-UBND
Quyết định số 2462/2006/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương · 2462/2006/QĐ-UBND
07/11/201126/2011/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 23/07/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 2462/2006/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Tổ chức phiên đấu giá

1. Trình tự và thủ tục mở phiên đấu giá:

a) Đến giờ mở phiên đấu giá, đại diện Lãnh đạo của Tổ chức đấu giá giới thiệu Người điều hành phiên đấu giá để thực hiện các công việc sau:

- Giới thiệu thành viên của Tổ chức đấu giá và Người giúp việc phiên đấu giá (nếu có).

- Điểm danh các đối tượng đã đăng ký đấu giá, công bố các đối tượng đủ điều kiện tham gia đấu giá.

- Giới thiệu toàn bộ thông tin về thửa đất đấu giá.

- Giải đáp các vấn đề những người tham dự đấu giá quan tâm.

- Phát Phiếu giá cho những người đủ điều kiện đấu giá và hướng dẫn cách thức ghi Phiếu giá.

b) Ghi Phiếu giá và bỏ vào hòm phiếu:

Trong thời gian 15 phút, người tham gia đấu giá phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, số thửa đất xin đấu giá; ghi mức giá đặt mua cả bằng số và bằng chữ; ký, ghi rõ họ tên người tham gia đấu giá và bỏ Phiếu giá vào hòm phiếu.

Phiếu giá hợp lệ là Phiếu giá do Tổ chức đấu giá phát hành, ghi đầy đủ các thông tin theo đúng yêu cầu của Tổ chức đấu giá; các Phiếu giá còn lại không đáp ứng được yêu cầu trên là Phiếu giá không hợp lệ.

c) Kiểm phiếu và công bố giá khởi điểm, công bố mức giá đặt mua:

- Trường hợp đấu giá nhiều vòng:

Sau khi thu hết Phiếu giá của người tham gia đấu giá và làm các thủ tục về kiểm phiếu theo quy định, Người điều hành phiên đấu giá công bố giá khởi điểm và mức giá đặt mua cao nhất của vòng đấu đó (không công bố cụ thể người đã trả mức giá cao nhất).

Người điều hành phiên đấu giá tuyên bố vòng đấu giá tiếp theo, công bố giá khởi điểm của vòng đấu giá tiếp theo, xác định những người tiếp tục tham gia vòng đấu giá (những người đặt giá mua thấp hơn giá khởi điểm hoặc không có nhu cầu đấu giá tiếp sẽ bị loại) và phát Phiếu giá cho những người tiếp tục tham gia đấu giá, yêu cầu ghi mức giá muốn trả vào Phiếu giá.

Cứ như vậy, phiên đấu giá sẽ kết thúc khi xác định được mức giá trả cao nhất và không còn người yêu cầu đấu giá tiếp, người có mức giá trả cao nhất là người trúng đấu giá.

Trường hợp có 2 người trở lên cùng trả một mức giá cao nhất nhưng không ai có nhu cầu đấu giá tiếp thì người điều hành phiên đấu giá tổ chức rút thăm để chọn người trúng đấu giá.

- Trường hợp đấu giá một vòng:

Sau khi thu hết Phiếu giá và công bố mức giá đặt mua của những người tham dự đấu giá, Người điều hành phiên đấu giá sẽ công khai giá khởi điểm. Những người có mức giá đặt mua cao hơn hoặc bằng giá khởi điểm sẽ được chọn là người trúng đấu giá theo thứ tự ưu tiên người đặt giá mua cao hơn sẽ được nhận lô (thửa) trước cho đến lô (thửa) đất cuối cùng.

Trường hợp trong một khu đất gồm nhiều lô có diện tích, kích thước, hình dáng khác nhau dẫn đến mức giá khác nhau thì có thể tổ chức đấu giá theo lô, người đặt mua với mức giá cao nhất (cao hơn hoặc bằng giá khởi điểm) sẽ là người trúng đấu giá.

Nếu có từ 2 người trở lên cùng đặt mua với mức giá bằng nhau (cao hơn hoặc bằng giá khởi điểm) thì tiến hành bốc thăm để chọn người trúng đấu giá.

d) Trường hợp đấu giá theo hình thức công khai bằng lời thì trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 11 của Quy chế đấu giá ban  hành kèm theo Quyết định số 216/2005/QĐ-TTg ngày 31/8/2005 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất.

2. Xử lý các trường hợp cụ thể:

a) Trường hợp người tham gia đấu giá ghi mức giá đặt mua bằng số và bằng chữ không khớp nhau thì lấy số tiền ghi bằng chữ.

b) Trường hợp tất cả những người tham gia đấu giá ở vòng thứ nhất đều bỏ mức giá thấp hơn mức giá khởi điểm thì Người điều hành phiên đấu giá công bố phiên đấu giá không thành và tiến hành tổ chức đấu giá lại vào thời điểm khác.

c) Trường hợp người trúng đấu giá từ chối không nhận quyền sử dụng đất hoặc rút lại giá đã đặt mua thì Tổ chức đấu giá xem xét chọn người thấp hơn, liền kề là người trúng giá bổ sung với điều kiện chênh lệch giữa hai mức giá thấp hơn tiền đặt cọc và mức giá trúng đấu giá không được thấp hơn giá khởi điểm (trường hợp đấu giá một vòng) hoặc không được thấp hơn mức giá khởi điểm của vòng đấu cuối cùng (trường hợp đấu giá nhiều vòng).

Nếu người trúng giá bổ sung từ chối không nhận quyền sử dụng đất thì Tổ chức đấu giá trình cấp có thẩm quyền ra văn bản huỷ bỏ kết quả đấu giá. Cuộc đấu giá sẽ được tổ chức lại vào thời điểm khác.

3. Biên bản đấu giá:

Diễn biến của mỗi phiên bán đấu giá phải được ghi thành Biên bản đấu giá với những nội dung chủ yếu như sau:

a) Địa điểm, thời gian tổ chức đấu giá.

b) Tên Tổ chức đấu giá, họ tên Người điều hành phiên đấu giá.

c) Số đối tượng tham gia đấu giá.

d) Mức giá khởi điểm của vòng đấu giá thứ nhất và quy định bước giá (nếu có).

đ) Mức giá đặt mua thấp nhất; mức giá đặt mua cao nhất (trường hợp đấu giá nhiều vòng).

e) Mức giá đặt mua của các đối tượng tham gia đấu giá (kết quả kiểm phiếu).

f)  Họ tên, địa chỉ, điện thoại (nếu có) của người trúng giá và vị trí lô (thửa) đất trúng đấu giá.

g) Kết luận có liên quan khác.

Biên bản đấu giá có ký xác nhận của người điều hành phiên đấu giá, Tổ chức đấu giá, người trúng đấu giá và đại diện cho những người tham gia đấu giá. Biên bản đấu giá và Phiếu giá của các đối tượng tham gia đấu giá được lưu tại Tổ chức đấu giá và làm cơ sở để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá.