Điều 7. Trình tự xác định tiền thuê đất, thuê mặt nước
1. Đối với trường hợp thuê đất, thuê mặt nước
a) Hồ sơ địa chính về thuê đất do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc cơ quan Tài nguyên Môi trường gửi đến, quyết định giá cho thuê đất, thuê mặt nước của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, giám đốc Sở Tài chính hoặc Chủ tịch UBND cấp huyện là căn cứ để cơ quan thuế xác định số tiền thuê đất, thuê mặt nước mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải nộp.
b) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ địa chính do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc cơ quan Tài nguyên Môi trường gửi đến cơ quan thuế thực hiện:
- Kiểm tra hồ sơ xác định số tiền thuê đất, thuê mặt nước phải nộp, viết thông báo số tiền thuê đất, thuê mặt nước gửi đến người có nghĩa vụ phải nộp. Trường hợp chưa đủ cơ sở để xác định số thu tiền thuê đất, thuê mặt nước thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ cơ quan thuế phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan gửi hồ sơ để bổ sung. Sau khi có đủ hồ sơ địa chính thì thời hạn hoàn thành là sau 05 ngày làm việc được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ bổ sung.
- Lập hồ sơ theo dõi thu nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước theo mẫu do Bộ Tài chính quy định; gửi thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước cho người có nghĩa vụ nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước.
2. Đối với trường hợp đang sử dụng đất thuê, mặt nước trước ngày Nghị định số 142/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành mà thuộc trường hợp phải xác định lại đơn giá thuê đất, thuê mặt nước thì căn cứ vào kết quả xác định lại đơn giá cho thuê của cơ quan có thẩm quyền quyết định đơn giá cho thuê đất, mặt nước gửi đến; cơ quan tài nguyên và môi trường điều chỉnh lại đơn giá thuê đất, mặt nước, cơ quan thuế xác định lại tiền thuê đất, thuê mặt nước và thông báo cho người có nghĩa vụ nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời hạn được quy định tại điểm 1 Điều này.
3. Đối với dự án đang hoạt động mà vẫn được hưởng ưu đãi về miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định tại Khoản 5 Điều 13 Nghị định 142/2005/NĐ-CP thì người được Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước gửi hồ sơ kê khai xin tiếp tục miễn, giảm tiền thuê đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu tiền thuê để thực hiện thủ tục miễn giảm theo quy định.
4. Đối với trường hợp thuê đất sau ngày Nghị định số 142/2005/NĐ-CP có hiệu lực; người được nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước thuộc đối tượng được miễn tiền thuê theo quy định tại Điều 14 (trừ Khoản 6) của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP và Khoản 4 Điều 14 được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP; được giảm tiền thuê theo quy định tại Khoản 1, Khoản 4, Điều 15 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP phải thực hiện kê khai xin được miễn, giảm tiền thuê gửi kèm hồ sơ về thuê đất, thuê mặt nước để văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc cơ quan tài nguyên và môi trường để cơ quan này chuyển thông tin đến cơ quan thuế.
5. Người được nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước thuộc đối tượng được miễn tiền thuê quy định tại Khoản 6 Điều 14; được giảm tiền thuê theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 15 của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP phải thực hiện kê khai xin được miễn, giảm tiền thuê gửi đến cơ quan trực tiếp quản lý thu thuế để thực hiện việc miễn giảm tiền thuê.