Điều 19. Mức phí bảo lãnh và lệ phí xét hồ sơ xin cấp bảo lãnh
1. Người được bảo lãnh phải nộp cho Cơ quan cấp bảo lãnh phí bảo lãnh, được tính trên dư nợ của khoản vay được bảo lãnh, và được quy định cụ thể như sau:
ưa) 0,5%/năm tính trên dư nợ của khoản vay được Chính phủ bảo lãnh để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng có thu hồi vốn.
b) 1,0%/năm tính trên dư nợ của khoản vay được Chính phủ bảo lãnh để thực hiện các dự án ngoài phạm vi các dự án nêu ở điểm (a) nói trên.
c) Không thu phí bảo lãnh đối với các dự án nêu tại khoản 3 Điều 5 của Quy chế này.
Khi cần điều chỉnh mức phí bảo lãnh, Bộ Tài chính chủ trì cùng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và công bố ít nhất 90 ngày trước khi thực hiện mức phí bảo lãnh mới. Trong mọi trường hợp, mức phí bảo lãnh không được vượt quá 1,5%/năm tính trên dư nợ của khoản vay được Chính phủ bảo lãnh.
2. Nộp phí bảo lãnh.
ưPhí bảo lãnh được tính bằng loại ngoại tệ ký vay, và được nộp vào cùng thời điểm với ngày thanh toán lãi của khoản vay bằng ngoại tệ ký vay, hoặc bằng ngoại tệ chuyển đổi khác, hoặc bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố chính thức hoặc thông báo cho Bộ Tài chính tại thời điểm trên. Cơ quan cấp bảo lãnh hướng dẫn Người được bảo lãnh chuyển trực tiếp khoản phí bảo lãnh này vào "Quỹ Tích luỹ trả nợ" theo quy định của Bộ Tài chính.
3. Lệ phí xét hồ sơ xin cấp bảo lãnh.
Người được bảo lãnh phải nộp cho Cơ quan cấp bảo lãnh khoản lệ phí cố định cho việc xét hồ sơ xin cấp bảo lãnh để bù đắp các chi phí phát sinh trong quá trình xét và cấp bảo lãnh. Mức lệ phí cụ thể và thời hạn nộp lệ phí này do Bộ Tài chính quy định thống nhất.