vanban.org

Điều 11. Trách nhiệm của Cơ quan cấp bảo lãnh và cơ quan liên quan. — Quyết định 233/1999/QĐ-TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 24/12/2006 Thay thế: 272/2006/QĐ-TTg · 28/11/2006
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 20/12/1999 Hiệu lực 05/01/2000 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 26 năm
Quyết định số 272/2006/QĐ-TTg Ban hành Quy chế cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ đối với các khoản vay nước ngoài · 272/2006/QĐ-TTg
Quyết định số 233/1999/QĐ-TTg Ban hành Quy chế Bảo lãnh của Chính phủ đối với các khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng. · 233/1999/QĐ-TTg
05/01/2000Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 233/1999/QĐ-TTg › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Trách nhiệm của Cơ quan cấp bảo lãnh và cơ quan liên quan.

1. Bộ Tài chính là cơ quan thay mặt Chính phủ xem xét cấp bảo lãnh cho doanh nghiệp vay nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tất cả các bảo lãnh của Chính phủ cho các khoản vay nước ngoài như đối với các khoản vay nước ngoài của Chính phủ, kể cả hướng dẫn doanh nghiệp vay vốn nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh nộp phí bảo lãnh.

2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan thay mặt Chính phủ xem xét cấp bảo lãnh cho các tổ chức tín dụng vay nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về các khoản bảo lãnh do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện cho Bộ Tài chính để quản lý chung việc cấp bảo lãnh của Chính phủ, kể cả hướng dẫn tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh nộp phí bảo lãnh.

Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thống nhất quy chế phối hợp cụ thể trong việc cấp bảo lãnh của Chính phủ, trao đổi thông tin và xử lý những vấn đề phát sinh trong quá trình bảo lãnh của Chính phủ, theo dõi, giám sát tình hình thực hiện khoản vay và có hỗ trợ khi cần thiết đối với doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được bảo lãnh, có báo cáo định kỳ hàng quý với Thủ tướng Chính phủ những khoản vay được Chính phủ bảo lãnh không trả được nợ khi đến hạn.

Đối với các bảo lãnh của Chính phủ mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cấp trước khi ban hành Nghị định số 90/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục quản lý theo chức năng của Cơ quan cấp bảo lãnh và có trách nhiệm chuyển cho Bộ Tài chính bản sao toàn bộ hồ sơ của các bảo lãnh này để quản lý chung. Toàn bộ số phí bảo lãnh thu được kể từ ngày có hiệu lực của Quy chế này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuyển vào "Quỹ tích luỹ trả nợ" theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

3. Bộ Tư pháp có trách nhiệm xem xét các vấn đề pháp lý trong các văn bản thoả thuận sẽ được ký với Người cho vay và cấp ý kiến pháp lý đối với Người được bảo lãnh và Người bảo lãnh.