Điều 5. Tàu cá và các loại nghề hoạt động khai thác tại các vùng biển
1. Tàu cá lắp máy có tổng công suất máy chính từ 90 mã lực trở lên khai thác thủy sản tại vùng khơi và vùng biển cả, không được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng lộng.
2. Tàu cá lắp máy có tổng công suất máy chính từ 20 mã lực đến dưới 90 mã lực khai thác thủy sản tại vùng lộng và vùng khơi, không được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng biển cả.
3. Tàu cá lắp máy có tổng công suất máy chính dưới 20 mã lực hoặc tàu không lắp máy khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng đệm của 02 tỉnh Cà Mau và tỉnh Kiên Giang, không được khai thác thủy sản tại vùng biển cả, vùng khơi, vùng lộng và vùng biển ven bờ của các tỉnh khác (trừ trường hợp Ủy ban nhân dân 02 tỉnh có thỏa thuận riêng).
4. Tàu cá lắp máy có tổng công suất máy chính dưới 20 mã lực của ngư dân các xã đảo Nam Du, An Sơn, huyện Kiên Hải và các xã, thị trấn, huyện Phú Quốc (trừ xã Thổ Châu) được khai thác thủy sản cách bờ đảo của quần đảo Nam Du, An Thới, đảo Phú Quốc không quá 05 hải lý.
5. Tàu cá lắp máy có tổng công suất máy chính dưới 20 mã lực của ngư dân xã đảo Thổ Châu, huyện Phú Quốc được phép hoạt động khai thác thủy sản cách bờ đảo của quần đảo Thổ Chu không quá 03 hải lý.
6. Tàu lưới vây ngời, vây ngày (không giới hạn công suất máy tàu) được phép khai thác đàn cá nổi ở vùng lộng và vùng biển ven bờ, nhưng không được vào vùng cấm khai thác và vùng cấm khai thác có thời hạn (quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 4 và khoản 1 Điều 6 của Quy định này).
7. Tàu khai thác nghêu lụa, sò lông:
Thời gian cho phép khai thác từ ngày 01 tháng 12 đến 31 tháng 5 năm sau.
Vùng biển cụ thể được phép hoạt động khai thác hàng năm, số lượng tàu cho phép khai thác nghêu lụa, sò lông do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh công bố bổ sung cụ thể, trên cơ sở khảo sát thực tế nguồn lợi vùng biển trước mùa vụ của cơ quan quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.