Điều 13. Xử lý một số trường hợp cụ thể
1. Về mật độ cây trồng và cách phân loại cây A, B, C: giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn căn cứ quy trình kỹ thuật canh tác và tình hình sản xuất trồng trọt thực tế của các hộ dân để có văn bản hướng dẫn cụ thể cho từng loại cây trồng .
Đối với các hộ nhận khoán trồng rừng từ các đơn vị nhà nước thì tuỳ theo hình thức đầu tư, hình thức nhận khoán, hợp đồng khoán giữa 2 bên mà Hội dồng đền bù cấp huyện xét mức đền bù cho phù hợp nội dung của hợp đồng và cơ chế chính sách khoán.
2. Cây ngắn ngày trồng xen trong vườn cây lâu năm: vườn cây lâu năm trong giai đoạn kiến thiết cơ bản (cây mới trồng hoặc trồng trong thời kỳ chưa đến tuổi thu hoạch) được tính giá trị đền bù cây trồng xen, nhưng diện tích cây trồng xen được đền bù tối đa không vượt quá 50% diện tích cả vườn cây.
3. Giá cây trồng trong thời kỳ xây dựng cơ bản và thời kỳ thu hoạch chưa ổn định trong bảng quy định này được tính cho cây trồng nhân giống bằng cách chiết ghép (đối với những cây trồng yêu cầu phải nhân giống bằng chiết ghép) hoặc cây trồng bằng hạt (đối với những cây chỉ có thể trồng bằng hạt).
Đối với những cây trồng yêu cầu nhân giống bằng phương pháp chiết ghép nhưng thực tế trồng bằng hạt, do chi phí cây giống thấp, phẩm chất cây không đảm bảo, các ngành thống nhất giá cây trồng hạt trong thời kỳ xây dựng cơ bản và thu hoạch chưa ổn định được tính bằng 30% giá cây chiết ghép. Riêng trường hợp cây đã bước vào thời kỳ thu hoạch ổn định thì tuỳ theo tình trạng cây để phân loại A, B, C và áp giá cho phù hợp.
4. Các trường hợp khi cấp có thẩm quyền có quyết định thu hồi đất (kể cả đất rừng thuộc rừng phòng hộ) để sử dụng vào mục đích khác thì các loại cây lâm nghiệp do các hộ đã trồng, sau khi đã tính bồi thường mà chủ dự án cần sử dụng những cây để tạo cảnh quan, cây phòng hộ (các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức có tài sản không được tận thu tài sản trên đất) thì chủ dự án được tính hỗ trợ thêm cho chủ tài sản bằng tối đa 0,7 lần mức giá bồi thường cây cùng loại đó.
5. Trong từng dự án cụ thể có những loại cây không có trong bảng giá quy định tại quyết định này thì Phòng Nông nghiệp huyện phối hợp với Ban bồi thường huyện báo cáo Ủy ban nhân dân huyện đề xuất mức giá gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
Trường hợp giá cả các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp có thay đổi tăng giảm trên 20% so mức quy định tại bảng giá này Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố xem xét phản ánh bằng văn bản gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét trình Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh giá cho phù hợp.
6. Các trường hợp bồi thường giá hoa màu cây trái, diêm nghiệp, ngư nghiệp, vật kiến trúc trước đây đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt kinh phí đền bù và được chủ dự án, Ủy ban nhân dân huyện thông báo chi trả tiền đền bù thì không áp dụng lại giá theo Quy định này.
Các quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường đã được ban hành nhưng chưa thông báo chi trả tiền thì tiếp tục thông báo chi trả và Hội đồng bồi thường huyện có trách nhiệm tính và trình phê duyệt bồi thường bổ sung cho các hộ. Các phương án đang lập và đang trong quá trình thẩm định chưa được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt thì Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư cấp huyện rà soát, điều chỉnh lại theo bảng Quy định giá này./.
(Xem các phụ lục đính kèm file word)