vanban.org

Điều 9. Tổ chức phối hợp kiểm tra đối với các văn bản có nội dung trái pháp luật — Quyết định 2260/2005/QĐ-UBTDTT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/12/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/12/2024 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 09/2024/TT-BVHTTDL · 22/10/2024
Ủy ban Thể dục Thể thao Ban hành 30/11/2005 Hiệu lực 05/01/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 2260/2005/QĐ-UBTDTT Về việc ban hành "Quy chế Tự kiểm tra và xử lývăn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban Thể dục thể thao ban hành" · 2260/2005/QĐ-UBTDTT
10/12/202409/2024/TT-BVHTTDLBãi bỏ Đang xem 05/01/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 2260/2005/QĐ-UBTDTT › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Tổ chức phối hợp kiểm tra đối với các văn bản có nội dung trái pháp luật

1. Sau khi phê duyệt "Phiếu kiểm tra văn bản" đối với văn bản có nội dung trái pháp luật được sơ bộ kết luận theo quy định tại Điều 8 của Quy chế này, Vụ trưởng Vụ Pháp chế thông báo cho thủ trưởng đơn vị thuộc Ủy ban đã chủ trì soạn thảo văn bản đó để tự kiểm tra.

2. Đối với văn bản có dấu hiệu trái pháp luật có thông báo của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tự kiểm tra văn bản, hoặc có yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại được chuyển, gửi đến Vụ Pháp chế để kiểm tra theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Quy chế này, Vụ trưởng Vụ Pháp chế thông báo cho thủ trưởng đơn vị thuộc Ủy ban Thể dục thể thao đã chủ trì soạn thảo văn bản đó để tổ chức tự kiểm tra, đồng thời phân công tổ chuyên viên của Vụ Pháp chế thực hiện việc kiểm tra theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 8 của Quy chế này.

3. Thủ trưởng đơn vị đã chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm tổ chức tự kiểm tra văn bản. Trong quá trình tự kiểm tra, đơn vị đã chủ trì soạn thảo văn bản có trách nhiệm phối hợp với Vụ Pháp chế để làm rõ các nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản, biện pháp xử lý và chuẩn bị văn bản xử lý. Trong trường hợp cần thiết, đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản và Vụ Pháp chế có hình thức thích hợp lấy ý kiến tham gia của các đơn vị khác có liên quan thuộc Ủy ban, các tổ chức pháp chế Bộ, ngành và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác về các vấn đề nêu trên.

4. Trong trường hợp Vụ Pháp chế và đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản thống nhất ý kiến về nội dung trái pháp luật của văn bản, thống nhất biện pháp xử lý là đình chỉ, hủy bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản thì Vụ Pháp chế dự thảo quyết định xử lý, nếu biện pháp được đề xuất là sửa đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản thì đơn vị đã chủ trì soạn thảo văn bản phải dự thảo ngay văn bản sửa đổi hoặc thay thế. Đối với vấn đề có nội dung phức tạp, cần có thêm thời gian nghiên cứu để dự thảo văn bản sửa đổi thì đơn vị đã chủ trì soạn thảo văn bản phải có báo cáo riêng nêu rõ lý do và xác định thời hạn trình văn bản. Trong trường hợp đó, dự thảo quyết định xử lý phải quy định rõ việc đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản có nội dung trái pháp luật.

Trong trường hợp Vụ Pháp chế và đơn vị đã chủ trì soạn thảo văn bản không thống nhất ý kiến thì đơn vị đã chủ trì soạn thảo văn bản phải có văn bản trình bày rõ quan điểm của mình gửi Vụ Pháp chế.