Điều 10. Nguồn tài chính cho công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản
1. Kinh phí bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản hàng năm: Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa bàn (diện tích mặt nước nuôi trồng, khai thác thủy sản, số lượng tàu thuyền, phương tiện đánh bắt, sản lượng đánh bắt thủy sản,…) và khả năng ngân sách của cấp mình để bố trí kinh phí phù hợp cho công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
2. Nguồn lực xã hội hóa:
a) Đóng góp của các tổ chức, cá nhân trực tiếp khai thác, nuôi trồng, chế biến, mua, bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản.
b) Đóng góp của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong các ngành, nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản.
c) Tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
d) Vốn ủy thác từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dành cho các hoạt động nhằm tái tạo, phát triển nguồn lợi thủy sản.
đ) Tiền đền bù thiệt hại về nguồn lợi thủy sản, khắc phục hậu quả sự cố môi trường sống của các loài thủy sinh vật theo quy định của pháp luật.
e) Phí bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
g) Các nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.
3. Thành lập Quỹ Tái tạo nguồn lợi thủy sản của tỉnh nhằm thu hút các nguồn đầu tư và chủ động trong việc thực hiện các nhiệm vụ về bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nội vụ nghiên cứu, đề xuất thành lập Quỹ Tái tạo nguồn lợi thủy sản của tỉnh, xây dựng Quy định tổ chức và hoạt động Quỹ Tái tạo nguồn lợi thủy sản; hàng năm phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Bạc Liêu có các vùng nước tự nhiên sử dụng nguồn kinh phí của Quỹ Tái tạo nguồn lợi thủy sản của tỉnh để tổ chức thả giống xuống các vùng nước tự nhiên phục vụ tái tạo nguồn lợi thủy sản.