Điều 8.
1. Ban kiểm soát đặc biệt được thành lập theo Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Trưởng ban do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chỉ định.
2. Trưởng ban kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong Ban theo phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn đã quy định; chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề có liên quan đến quá trình kiểm soát đặc biệt Tổ chức tín dụng cổ phần; chịu trách nhiệm trước Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc điều hành Ban kiểm soát đặc biệt và các quyết định liên quan đến việc kiểm soát đặc biệt tổ chức tín dụng.
3. Ban kiểm soát đặc biệt phải có tối thiểu 3 thành viên, thành viên Ban kiểm soát đặc biệt phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
3.1. Là cán bộ của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, thuộc các phòng: quản lý các tổ chức tín dụng, tổng hợp (nơi không có phòng quản lý các tổ chức tín dụng), Thanh tra, Quản lý ngoại hối, Kế toán, Tín dụng;
3.2. Có trình độ, kinh nghiệm về công tác nghiệp vụ chuyên môn và có thời gian công tác trong ngành ngân hàng ít nhất là 03 năm;
3.3. Không phải là cổ đông, bố, mẹ, vợ, chồng, con của một trong các thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) của Tổ chức tín dụng cổ phần được kiểm soát đặc biệt.
4. Các thành viên Ban kiểm soát đặc biệt thực hiện công việc theo sự phân công của Trưởng ban và chịu trách nhiệm trước Trưởng ban, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố về việc thực thi nhiệm vụ của mình. Việc thay thế thành viên Ban kiểm soát đặc biệt do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định theo đề nghị của Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và Trưởng ban kiểm soát đặc biệt.
5. Trường hợp cần thiết, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ định một tổ chức tín dụng khác tham gia kiểm soát đặc biệt Tổ chức tín dụng cổ phần và chỉ định cán bộ của Tổ chức tín dụng đó tham gia vào Ban kiểm soát đặc biệt.