vanban.org

Điều 6. Nội dung phân tích tài chính của dự án đầu tư — Quyết định 2014/QĐ-BCN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 28/06/2007 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Công nghiệp Ban hành 13/06/2007 Hiệu lực 28/06/2007 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 2014/QĐ-BCN › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Nội dung phân tích tài chính của dự án đầu tư

1. Một số nguyên tắc chung trong phân tích tài chính của dự án đầu tư

a) Phân tích tài chính của dự án đầu tư áp dụng cho các phương án kỹ thuật kiến nghị và được xem xét trên quan điểm của Nhà đầu tư nhằm lựa chọn phương án tối ưu;

b) Đối với các phương án xem xét, một số yếu tố như vốn đầu tư, phân bổ vốn đầu tư, phân bổ lãi vay, vai trò và chế độ vận hành của dự án trong hệ thống điện, số giờ huy động công suất đặt cực đại cần được tính toán cụ thể. Các dự án nguồn điện phải căn cứ vào quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, xác định công suất và điện lượng ứng với từng giai đoạn vận hành làm căn cứ tính toán doanh thu hàng năm.

c) Số giờ huy động công suất đặt cực đại của các nhà máy điện áp dụng trong phân tích kinh tế, tài chính được quy định như sau:

- Đối với các nhà máy nhiệt điện than:

Số giờ sử dụng công suất đặt cực đại từ 6.500 giờ/năm đến tối đa 7.000 giờ/năm.

- Đối với các nhà máy tua bin khí chu trình hỗn hợp:

Số giờ sử dụng công suất đặt cực đại từ 6.500 giờ/năm đến tối đa 7.000 giờ/năm.

- Đối với các nhà máy thuỷ điện có công suất lắp máy > 30MW

Số giờ sử dụng công suất đặt cực đại tính toán cụ thể theo chế độ thuỷ văn, điều tiết hồ chứa và có xem xét đến yêu cầu đảm bảo nước hạ lưu mùa kiệt của từng công trình và áp dụng trong khoảng từ 4.000 giờ/năm đến tối đa 5.500 giờ/năm.

- Đối với các nhà máy thuỷ điện có công suất lắp máy < 30MW

Số giờ sử dụng công suất đặt cực đại tính toán cụ thể theo chế độ thuỷ văn hoặc điều tiết hồ chứa của từng công trình và áp dụng trong khoảng từ 3.000 giờ/năm đến tối đa 7.000 giờ/năm.

2. Các chỉ tiêu tài chính cần xác định lần lượt trong phân tích tài chính dự án gồm:

a) Giá trị hiện tại ròng tài chính (NPVf);

b) Thời gian hoàn vốn chủ sở hữu có chiết khấu (CFATf/Icsh);

c) Tỷ suất sinh lợi nội tại về tài chính (FIRR %);

d) Tỷ số Lợi ích/Chi phí tài chính (B/Cf);

3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án được tính trên cơ sở dòng tích luỹ tài chính (CFATf) của các năm trong thời hạn dự án và tỷ suất chiết khấu tài chính if% (tỷ suất chiết khấu tài chính bình quân gia quyền cho các nguồn vốn).

Trong đó:

Icsh: Tổng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn đầu tư dự án.

Iv: Tổng vốn vay trong tổng vốn đầu tư dự án.

I: tổng vốn đầu tư của dự án.

icsh%: tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu.

iv%: tỷ lệ lãi suất của vốn vay (quy định tại Điều 8.2).

t%: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.

Trường hợp nguồn vốn chủ sở hữu được góp vốn từ nhiều nguồn khác nhau thì Tỷ suất sinh lợi của nguồn vốn chủ sở hữu (icsh%) dùng để xác định tỷ suất chiết khấu tài chính (if) được tính theo nguyên tắc bình quân gia quyền các nguồn vốn góp.

Nhà đầu tư chịu trách nhiệm về cơ cấu vốn và tỷ suất sinh lợi của từng nguồn vốn.