Điều 15. Phương pháp xét trúng tuyển:
1. Sơ tuyển
Đối với một số ngành đặc thù, đòi hỏi phải có sơ tuyển thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị báo cáo UBND tỉnh (Các cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh), UBND các huyện, thị xã (Các cơ quan, đơn vị trực thuộc huyện) cho phép sơ tuyển. Công tác sơ tuyển gồm các hình thức: Kiểm tra, rà soát hồ sơ người dự tuyển (Kể cả đề nghị cơ quan chức năng làm rõ lịch sử chính trị của người dự tuyển); tiếp xúc phỏng vấn trực tiếp; kiểm tra năng khiếu, năng lực, sở trường người dự tuyển.
Cơ quan, đơn vị phải thành lập Hội đồng sơ tuyển, đảm bảo công khai, minh bạch. Số người đạt yêu cầu sơ tuyển được đưa vào danh sách xét tuyển hoặc thi tuyển một chức danh phải có số dư ít nhất gấp đôi số chỉ tiêu cần tuyển. Sau khi sơ tuyển mọi thí sinh đều phải xét theo quy định tại khoản 2 Điều này. Không lợi dụng việc sơ tuyển để loại bớt người dự tuyển có khả năng, điều kiện trúng tuyển.
2. Xét trúng tuyển
2.1. Điểm xét tuyển = Điểm trung bình chung toàn khóa được quy đổi theo thang điểm 100 x hệ số 2 + Điểm ưu tiên + Điểm khuyến khích (Nếu có).
- Điểm trung bình chung toàn khóa là điểm làm căn cứ xếp loại tốt nghiệp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Điểm ưu tiên là điểm được quy định ở Điều 13 Quy chế này. Một người thuộc nhiều diện ưu tiên thì chỉ lấy điểm ưu tiên cao nhất để cộng vào điểm xét tuyển;
- Điểm khuyến khích là điểm quy định tại Điều 14 Quy chế này;
2.2. Căn cứ vào điểm xét tuyển để xét trúng tuyển theo điểm xét tuyển từ cao xuống cho đến hết chỉ tiêu tuyển dụng (Không phân biệt trình độ đào tạo và hệ đào tạo);
2.3. Trường hợp nhiều người có điểm xét tuyển bằng nhau thì xét theo thứ tự: Người có điểm trung bình chung toàn khóa cao hơn; con liệt sỹ; những người là thương binh, con thương binh, bệnh binh có tỷ lệ thương tật mất sức cao hơn, người có thời gian hợp đồng làm việc nhiều hơn...