Điều 9. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất ở và đất nông nghiệp
Việc xử lý đất ở và đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT được thực hiện như sau:
1. Trường hợp người có đất thu hồi có văn bản đề nghị Nhà nước thu hồi và bồi thường phần diện tích đất sau khi thu hồi còn lại thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét thu hồi và bồi thường như sau:
a) Đối với đất ở: diện tích đất ở của từng thửa sau khi thu hồi còn lại (kể cả trường hợp diện tích còn lại thuộc nhiều thửa cùng chủ sử dụng đất) nhỏ hơn hạn mức diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, không thể xây dựng nhà ở theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của Bộ Xây dựng;
b) Đối với đất nông nghiệp: diện tích đất nông nghiệp của từng thửa sau khi thu hồi còn lại nhỏ hơn hoặc bằng 100m2 (kể cả trường hợp diện tích còn lại thuộc nhiều thửa cùng chủ sử dụng đất);
c) Đối với trường hợp diện tích đất sau khi thu hồi còn lại không thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b khoản này, Ủy ban nhân dân cấp huyện đề xuất từng trường hợp cụ thể để Hội đồng thẩm định các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất xem xét, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
2. Phần diện tích sau khi thu hồi được quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này (trừ đất ở) được bồi thường theo giá đất cụ thể, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng tiền bằng 1,0 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
3. Việc thu hồi diện tích đất theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều này không phải điều chỉnh quy mô dự án đầu tư. Kinh phí bồi thường cho diện tích thu hồi này được tính vào kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của công trình, dự án thực hiện.
4. Đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều này giao Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức quản lý.