Điều 9. Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị và các văn bản hướng dẫn thi hành (trừ các trường hợp quy định tại các Khoản 2,3,4,5 Điều này).
2. Các trường hợp xây dựng vi phạm quy định về lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt (theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt): Trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Giao thông đường bộ và các quy định của pháp luật có liên quan.
3. Các trường hợp xây dựng vi phạm quy định về đê điều, phòng, chống thiên tai, thủy lợi, thủy sản, bảo vệ và phát triển rừng: Trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Đê điều, Luật Phòng, chống thiên tai, Luật Thủy lợi, Luật Thủy sản, Luật Bảo vệ và phát triển rừng và các quy định của pháp luật có liên quan.
4. Các trường hợp xây dựng công trình làm thay đổi mục đích sử dụng đất chưa được cấp có thẩm quyền cho phép (trừ các trường hợp vi phạm tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 5 Điều này): Trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Đất đai và các quy định của pháp luật có liên quan.
5. Các trường hợp xây dựng vi phạm hành lang an toàn lưới điện, hành lang bảo vệ công trình đường ống dẫn xăng, dầu, khí đốt trên địa bàn thành phố: Trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Điện lực; Luật Dầu khí và các quy định của pháp luật có liên quan.
6. Đối với các hành vi vi phạm hành chính vượt thẩm quyền của người xử phạt thì xử lý như sau:
a) Trường hợp vi phạm vượt quá thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, trong thời hạn 03 ngày cấp xã lập hồ sơ vi phạm đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
b) Trường hợp vi phạm vượt quá thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, Ủy ban nhân dân cấp huyện đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
c) Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm vượt quá thẩm quyền của Thanh tra viên trong các cuộc thanh tra chuyên ngành theo quy định.
d) Trường hợp vi phạm vượt quá thẩm quyền của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành và Chánh Thanh tra Sở, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, Chánh Thanh tra Sở báo cáo Giám đốc Sở hoàn thiện hồ sơ đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.