Điều 11. Nghĩa vụ của chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được giao rừng và đất rừng theo Nghị định số 181/2004/NĐ-CP; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Sửa đổi bởi 06/2013/QĐ-UBND · hiệu lực 21/07/20131. Chủ rừng và hộ gia đình, cá nhân nhận khoán trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng phải tuân thủ nghiêm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
2. Không được sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp vượt quá tỷ lệ cho phép quy định tại các Điều 5, 6, 7 Chương II của Quy định này. Phải thực hiện đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Thực hiện nghĩa vụ thuế và các khoản phải nộp khác theo qui định hiện hành của Nhà nước.
4. Thực hiện nghiêm việc bảo vệ môi trường trong quá trình tác động vào rừng và đất rừng.
5. Đối với hộ gia đình, cá nhân nhận khoán rừng và đất rừng, nếu sản lượng khai thác vượt mức khoán theo hợp đồng thì bên nhận khoán được hưởng 100% giá trị lâm sản vượt khoán. Nếu hụt sản lượng theo hợp đồng không phải do nguyên nhân bất khả kháng (như thiên tai, dịch bệnh...) được cơ quan thẩm quyền xác nhận, thì bên nhận khoán phải bồi hoàn phần sản lượng bị hao hụt cho bên giao khoán.