Điều 12. Tổ chức lựa chọn nhà đầu tư
1. Khi lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án BT (nhóm B) hoặc Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án BT (nhóm C), cơ quan chuẩn bị dự án phải lựa chọn khu đất để thanh toán dự án BT có sơ bộ giá trị tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tương ứng với giá trị dự án BT.
2. Quy trình thực hiện dự án BT thực hiện theo quy định của Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ. Dự án có sử dụng đất đối ứng dự án BT phải bảo đảm các điều kiện như việc thực hiện các dự án có sử dụng đất nêu tại Chương II của Quy định này nhưng không yêu cầu thực hiện thủ tục về ký quỹ để thực hiện dự án. Việc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư được thực hiện đồng thời đối với cả hai dự án và không thực hiện sơ tuyển.
3. Hồ sơ mời thầu lựa chọn chủ đầu tư thực hiện dự án BT và dự án có sử dụng đất đối ứng dự án BT phải nêu yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, về kỹ thuật và tài chính của cả hai dự án. Phương thức đấu thầu là một giai đoạn hai túi hồ sơ. nhà đầu tư chuẩn bị một túi hồ sơ đề xuất kỹ thuật cả dự án BT và dự án có sử dụng đất đối ứng dự án BT; chuẩn bị một túi hồ sơ đề xuất tài chính cả dự án BT và dự án có sử dụng đất đối ứng dự án BT.
4. Đánh giá hồ sơ dự thầu:
Nhà đầu tư có hồ sơ dự thầu hợp lệ; đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm; có đề xuất kỹ thuật đạt yêu cầu của cả dự án BT và dự án có sử dụng đất đối ứng dự án BT được tiếp tục xem xét đánh giá xếp hạng về mặt tài chính. Nhà đầu tư có hiệu quả tổng giá trị tài chính cao nhất của cả hai dự án cộng lại được xét trúng thầu. Tổng giá trị tài chính được xác định bằng tổng giá trị giảm thầu của dự án BT so với giá trị dự toán được duyệt (được quy đổi từ tỷ lệ % giảm thầu sang giá trị tiền tuyệt đối) và giá trị tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của dự án đối ứng dự án BT (được tính toán theo quy định tại Khoản 2, Điều 7 Quy định này).