vanban.org

Điều 11. Xử lý đối với các công trình không đảm bảo an toàn cho việc khai thác, sử dụng — Quyết định 18/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/01/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/01/2018 Thay thế: 52/2017/QĐ-UBND · 29/12/2017
Bắc Kạn Ban hành 02/10/2014 Hiệu lực 12/10/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 7 phiên bản · 12 năm
Quyết định số 04/2026/QĐ-UBND Ban hành quy định trách nhiệm quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên · 04/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 06/2022/QĐ-UBND Ban hành Quy định phân công, phân cấp về bảo trì công trình và quy trình quản lý, khai thác, sử dụng công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn · 06/2022/QĐ-UBND
Quyết định số 52/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy định về phân công, phân cấp, bảo trì công trình và quy trình quản lý, khai thác, sử dụng công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn · 52/2017/QĐ-UBND
Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định bảo trì công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn · 18/2014/QĐ-UBND
15/01/201852/2017/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 12/10/2014Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 18/2014/QĐ-UBND › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Xử lý đối với các công trình không đảm bảo an toàn cho việc khai thác, sử dụng

1. Công trình, bộ phận công trình không đảm bảo an toàn cho việc khai thác, sử dụng là công trình, bộ phận công trình nguy hiểm, có nguy cơ sập đổ biểu hiện qua các dấu hiệu như nứt, võng, lún, nghiêng đến giá trị giới hạn theo quy định của quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật có liên quan.

2. Khi phát hiện công trình không đảm bảo an toàn cho việc khai thác, sử dụng, người có trách nhiệm bảo trì có trách nhiệm thực hiện các việc sau đây:

a) Kiểm tra công trình hoặc kiểm định chất lượng công trình.

b) Quyết định thực hiện các biện pháp an toàn: Hạn chế sử dụng công trình, ngừng sử dụng công trình, di chuyển người và tài sản nếu cần thiết để bảo đảm an toàn và báo cáo ngay với cơ quan quản lý nhà nước sau đây:

Các cơ quan quy định tại Khoản 1 Điều 26 Nghị định số: 114/2010/NĐ-CP (Gồm: Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) đối với các công trình chuyên ngành từ cấp II trở lên và công trình khi xảy ra sự có có thể gây thảm họa theo quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng.

Ủy ban nhân dân tỉnh đối với các công trình còn lại trên địa bàn. Các cơ quan quy định tại Khoản 1 và Khoản 4 Điều 12 Quy định này có trách nhiệm tiếp nhận báo cáo và chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan tham mưu cho UBND tỉnh giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

c) Sửa chữa những hư hỏng có nguy cơ làm ảnh hưởng đến an toàn sử dụng, an toàn vận hành của công trình theo quy định của pháp luật về xây dựng công trình khẩn cấp.

3. Đối với chung cư có biểu hiện xuống cấp về chất lượng, không đảm bảo an toàn cho việc khai thác, sử dụng ngoài việc thực hiện các quy định nêu ở Khoản 1 Điều này thì chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền còn phải thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở.

4. Khi phát hiện hoặc nhận được thông tin về biểu hiện xuống cấp về chất lượng công trình, không bảo đảm an toàn cho việc khai thác, sử dụng thì cơ quan quản lý nhà nước nêu tại Điểm b Khoản 2 Điều này có trách nhiệm:

a) Tổ chức kiểm tra, thông báo, yêu cầu và hướng dẫn chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền tổ chức khảo sát, kiểm định chất lượng, đánh giá mức độ nguy hiểm, thực hiện sửa chữa hoặc phá dỡ bộ phận công trình hoặc công trình, nếu cần thiết.

b) Quyết định áp dụng các biện pháp an toàn nêu tại Điểm b Khoản 2 Điều này khi chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền không thực hiện các công việc nêu tại Điểm a Khoản này.

c) Xử lý trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật khi chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền không thực hiện theo các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước nêu tại Điểm a và b Khoản này.

5. Trường hợp công trình có thể sập đổ ngay thì người có trách nhiệm bảo trì phải di dời khẩn cấp toàn bộ người ra khỏi công trình này và các công trình lân cận bị ảnh hưởng, báo cáo Ủy ban nhân dân xã hoặc Ủy ban nhân dân huyện, thị xã (nơi có công trình) để được hỗ trợ thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn.

Ủy ban nhân dân xã hoặc Ủy ban nhân dân huyện, thị xã (nơi có công trình) khi phát hiện hoặc được báo cáo về tình huống công trình có thể sập đổ ngay thì phải tổ chức thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn như ngừng sử dụng công trình, di dời người và tài sản, phong tỏa công trình và các biện pháp cần thiết khác.

6. Chủ sở hữu, người sử dụng các công trình lân cận phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp an toàn như quy định tại Khoản 4 Điều này khi được yêu cầu.

7. Công trình bị hư hỏng do tác động thiên tai, hỏa hoạn và các tác động khác phải được đánh giá chất lượng trước khi quyết định tiếp tục sử dụng, khai thác.

8. Trường hợp công trình xảy ra sự cố trong quá trình khai thác, sử dụng, việc giải quyết sự cố thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng.