vanban.org

Điều 30. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất — Quyết định 18/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/08/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/08/2014
Thừa Thiên Huế Ban hành 01/06/2011 Hiệu lực 16/01/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 18/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. · 18/2011/QĐ-UBND
15/08/201446/2014/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 16/01/2011Bản gốcThay thế
Quyết định số 928/2008/QĐ-UBND Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế · 928/2008/QĐ-UBND
Quyết định số 2689/2006/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều và đơn giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Quyết định số 3721/2005/QĐ-UBND ngày 01/11/2005 của UBND tỉnh · 2689/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 18/2011/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 30
Đọc toàn văn

Điều 30. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất

1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao và đất nông nghiệp nêu tại Điều 31 Quy định này) thì được hỗ trợ ổn định đời sống như sau:

a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 (sáu) tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 (mười hai) tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 18 (mười tám) tháng và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 24 (hai mươi bốn) tháng;

b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 (mười hai) tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 30 (ba mươi) tháng và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 36 (ba mươi sáu) tháng;

c) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này được tính bằng tiền tương đương 30 kg (ba mươi ki-lô-gam) gạo tẻ thường, được chi trả một lần theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương.

d) Tỷ lệ phần trăm (%) diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi theo Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều này được xác định theo tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp lũy kế qua các lần bị thu hồi trên tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng của người bị thu hồi đất được xác định tại thời điểm bị thu hồi đất lần đầu. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp lần đầu dưới 30%, nếu lần sau tiếp tục bị thu hồi đất nông nghiệp thì được cộng tỷ lệ phần trăm các lần bị thu hồi để được hỗ trợ theo quy định. Trường hợp Nhà nước đã thu hồi trên 70% đất nông nghiệp và đã hỗ trợ theo quy định thì các lần bị thu hồi sau (nếu có) không được hỗ trợ. Trường hợp đã được hỗ trợ với mức 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, nhưng tiếp tục bị thu hồi đất và tổng tỷ lệ phần trăm đất nông nghiệp bị thu hồi trên 70% thì tại thời điểm bị thu hồi đất được hỗ trợ phần chênh lệch giữa mức hỗ trợ theo quy định tại Điểm b và Điểm a Khoản 1 Điều này.

2. Khi Nhà nước thu hồi đất của tổ chức kinh tế, hộ sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh, mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh, thì được hỗ trợ bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 (ba) năm liền kề trước đó được cơ quan Thuế xác nhận.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ bằng giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

4. Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm:

a) Hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp: trong trường hợp đặc biệt cần hỗ trợ thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lập và trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.

b) Hỗ trợ 100% các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh trong thời gian 01 (một) năm.