Điều 6.
1. Căn cứ mục đích, nhu cầu sử dụng và số lượng tiền mẫu được in, đúc, Vụ trưởng Vụ Nghiệp vụ phát hành và kho quỹ chịu trách nhiệm cấp tiền mẫu cho các đối tượng sau:
a. Các bộ phận chức năng trong Vụ, các kho tiền Trung ương;
b. Sở Giao dịch, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, văn phòng đại diện của Ngân hàng Nhà nước;
c. Các Ngân hàng thương mại quốc doanh Trung ương, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, Tổng Công ty vàng bạc đá quý Việt Nam, Kho bạc nhà nước Trung ương;
d. Các đơn vị có liên quan của Bộ Công an;
e. Các ngân hàng nước ngoài có quan hệ, trao đổi tiền mẫu với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Trong phạm vi số lượng tiền mẫu được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp, Giám đốc Sở Giao dịch, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm cân đối nhu cầu sử dụng tại đơn vị và cấp tiền mẫu cho các đối tượng mở tài khoản giao dịch chính tại đơn vị mình, gồm các tổ chức tín dụng, sở giao dịch của tổ chức tín dụng, chi nhánh của tổ chức tín dụng, Kho bạc nhà nước trên địa bàn (trừ các đối tượng nêu tại khoản 1, điểm c điều này); Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố cấp tiền mẫu cho công ty vàng bạc đá quý trên địa bàn và các bộ phận có liên quan của Sở Công an.
3. Những đối tượng sau có thể được cấp tiền mẫu theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Nghiệp vụ phát hành và kho quỹ được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận:
a. Các tổ chức quốc tế, văn phòng các tổ chức quốc tế tại Việt Nam;
b. Các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước có nhu cầu về tiền mẫu phục vụ cho mục đích giới thiệu, bảo tàng hay nghiên cứu tiền tệ.