vanban.org

Điều 4. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác — Quyết định 171/2025/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 14/09/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 14/09/2026
Hải Phòng Ban hành 24/09/2025 Hiệu lực 24/09/2025 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 5 phiên bản · 1 năm
Quyết định số 171/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 171/2025/QĐ-UBND
Quyết định số 51/2024/QĐ-UBND Bổ sung Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 28/2024/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2024 của UBND tỉnh Hải Dương “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương” · 51/2024/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 171/2025/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác

Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 14 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP, như sau:

1. Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình xây dựng khác theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP được xác định bằng 60% giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại.

Mức bồi thường nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất được xác định theo công thức dưới đây nhưng tổng mức bồi thường không vượt quá giá trị xây mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương:

Mbt = Tgt + (Tgt x 60%)

Mbt: Mức bồi thường;

Tgt: Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại.

Trường hợp nhà, công trình xây dựng khác có mức bồi thường tính theo công thức trên mà nhỏ hơn 30% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình nhưng đang sử dụng ổn định thì được bồi thường bằng 30% giá trị xây dựng mới theo đơn giá bồi thường thiệt hại thực tế về nhà, nhà ở, công trình xây dựng do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác đã hết khấu hao nhưng đang sử dụng ổn định thì được bồi thường bằng 20% giá trị xây dựng mới theo đơn giá bồi thường thiệt hại thực tế về nhà, nhà ở, công trình xây dựng do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác đã hết khấu hao nhưng không còn sử dụng thì không được bồi thường.

3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật chuyên ngành quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP:

a) Đối với nhà trông coi tại các khu vực được phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khu nuôi trồng thủy sản tập trung hoặc các nhà, công trình xây dựng phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất nông nghiệp; nhà, công trình xây dựng khác trên đất trồng lúa theo quy định của pháp luật nếu tại thời điểm xây dựng phù hợp với các quy định về diện tích, số lượng, tiêu chuẩn được phép xây dựng thì mức bồi thường được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.

b) Diện tích, số lượng nhà trông coi để tính bồi thường được tính theo diện tích, số lượng thực tế nhưng không quá diện tích và số lượng tối đa theo quy định tại điểm c, điểm d khoản này.

c) Diện tích nhà hông coi được tính bồi thường tối đa là 30,0 m2/nhà trông coi.

d) Số lượng nhà trông coi tối đa để tính bồi thường:

Diện tích đất đến 05 ha: 01 nhà.

Diện tích đất trên 05 ha đến 15 ha: 02 nhà.

Diện tích đất trên 15 ha đến 20 ha: 03 nhà.

Diện tích đất trên 20 ha: 04 nhà.

đ) Nhà, công trình xây dựng khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không thuộc trường hợp xây dựng vượt diện tích, vượt số lượng được phép xây dựng thì được bồi thường bằng giá trị còn lại của nhà, công trình xây dựng đó.

Phần diện tích hoặc số lượng nhà, công trình xây dựng vượt quy định không được bồi thường

4. Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm xác định việc sử dụng ổn định đối với các nhà, công trình xây dựng khác quy định tại khoản 1, 2 Điều này.