Điều 5. Nguyên tắc khen thưởng và căn cứ xét khen thưởng
Thực hiện theo Điều 3 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ và Khoản 2 Điều 10 Luật thi đua, khen thưởng năm 2003 và các quy định sau:
1. Nguyên tắc khen thưởng:
a) Thực hiện khen thưởng phải bảo đảm chính xác, công khai, công bằng, dân chủ và kịp thời trên cơ sở đánh giá đúng công trạng, thành tích của các tập thể và cá nhân, coi trọng chất lượng theo tiêu chuẩn; thành tích đến đâu khen thưởng đến đó;
b) Cùng một đối tượng, cùng một thời điểm chỉ được xét tặng một danh hiệu thi đua hoặc một hình thức khen thưởng cấp tỉnh hoặc cấp Nhà nước;
c) Cấp nào quản lý về tổ chức biên chế, cán bộ, công chức, viên chức người lao đọng và quỹ lương thì cấp đó thực hiện việc xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng;
d) Cấp nào quản lý về tổ chức, chủ trì quan hệ phối hợp thì cấp đó thực hiện việc xét khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng;
đ) Tập thể, cá nhân trong cùng một năm công tác được xét tặng không quá 02 Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (bao gồm khen thưởng theo chuyên đề và khen thưởng tổng kết năm, trừ khen thưởng đột xuất);
e) Đối với một đơn vị cơ sở xem xét khen thưởng khi tính tỷ lệ phần trăm nếu không được một tập thể, một cá nhân thì được tính là một tập thể, một cá nhân để xét khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng và số lẻ từ 0,5 trở lên được làm tròn là 1.
2. Căn cứ xét khen thưởng
Lập được thành tích tiêu biểu xuất sắc, được bình xét trong các phong trào thi đua do tỉnh; thành phố, huyện và sở, ban, ngành đoàn thể tỉnh phát động hoặc lập được thành tích đột xuất, tiêu biểu, xuất sắc.