Điều 6. Lập, sửa đổi, bổ sung, giải mật danh mục bí mật Nhà nước
1. Căn cứ quy định tại các Điều 5, 6 và 7 của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình tổ chức đối chiếu để xác định phạm vi bí mật Nhà nước độ Tuyệt mật, Tối mật, Mật của cơ quan, đơn vị, báo cáo theo hệ thống dọc đến người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở Trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh (Công an tỉnh - Thường trực Ban chỉ đạo công tác bảo vệ bí mật Nhà nước tỉnh) để tập hợp, xem xét lập danh mục bí mật Nhà nước theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 33/2002/NĐ-CP. Trên cơ sở đề xuất của các cơ quan, tổ chức, Công an tỉnh giúp Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công an phê duyệt.
2. Vào ngày 31/10 hàng năm, các cơ quan, tổ chức báo cáo Công an tỉnh (qua Phòng An ninh chính trị nội bộ) các trường hợp danh mục bí mật Nhà nước không còn phù hợp, cần thay đổi độ mật, cần giải mật hoặc xác định những nội dung mới cần được bảo mật để Công an tỉnh làm thủ tục trình cấp có thẩm quyền quyết định sửa đổi, bổ sung danh mục bí mật Nhà nước hoặc thay đổi độ mật, giải mật danh mục bí mật Nhà nước của các cơ quan, tổ chức.