Điều 12. Hoạt động tài nguyên nước trong vùng hạn chế khai thác, sử dụng nước dưới đất
1. Việc hạn chế khai thác nước dưới đất, hành nghề khoan nước dưới đất tại một vùng để phòng tránh nguy cơ sụt lún đất, xâm nhập mặn, gây ô nhiễm các tầng chứa nước; phục hồi mực nước bị hạ thấp;
2. Các khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất:
a) Khu vực có nguồn nước mặt có khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng nước;
b) Khu vực có nguy cơ sụt, lún đất, xâm nhập mặn, gia tăng ô nhiễm do khai thác nước dưới đất;
c) Khu vực có nguồn nước dưới đất bị ô nhiễm hoặc có dấu hiệu ô nhiễm nhưng chưa có giải pháp công nghệ xử lý đảm bảo chất lượng;
d) Khu vực có nguồn nước dưới đất bị suy giảm liên tục và có nguy cơ bị hạ thấp quá mức;
đ) Khu đô thị, khu dân cư tập trung ở nông thôn, khu, cụm công nghiệp tập trung, làng nghề đã có hệ thống cấp nước tập trung và dịch vụ cấp nước bảo đảm đáp ứng yêu cầu chất lượng, số lượng.
3. Khi các tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng nước dưới đất tại các khu vực được quy tại Khoản 2, Điều này Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét đảm bảo đúng quy hoạch tài nguyên nước, căn cứ vào kết quả điều tra, đánh giá nước dưới đất trong hồ sơ đề nghị cấp phép của tổ chức, cá nhân lập, trình Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép khai thác trên cơ sở hạn chế về đối tượng, mục đích khai thác, lưu lượng, thời gian khai thác, số lượng công trình, độ sâu, tầng chứa nước khai thác.
4. Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm điều tra, thống kê các khu vực quy định tại Điểm b, c, d, Khoản 2 Điều này, để xây dựng kế hoạch phục hồi và bảo vệ nguồn nước dưới đất trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt thực hiện.