vanban.org

Điều 14. Quy trình giải quyết tố cáo — Quyết định 17/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 09/09/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 09/09/2007 Thay thế: 30/2007/QĐ-UBND · 30/08/2007
Tiền Giang Ban hành 17/04/2006 Hiệu lực 27/04/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 30/2007/QĐ-UBND Quy định về quy trình tiếp nhận, xử lý đơn và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh Tiền Giang · 30/2007/QĐ-UBND
Quyết định số 17/2006/QĐ-UBND Ban hành Quy định về qui trình tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên điạ bàn tỉnh Tiền Giang · 17/2006/QĐ-UBND
09/09/200730/2007/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 27/04/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 17/2006/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Quy trình giải quyết tố cáo

1. Trước hết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải ra quyết định giao nhiệm vụ cho tổ chức, cá nhân tiến hành xác minh nội dung tố cáo; trong quyết định phải ghi rõ người được giao nhiệm vụ xác minh, nội dung cần xác minh, thời gian tiến hành xác minh, quyền hạn và trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ xác minh.

2. Trong quá trình giải quyết tố cáo, người được giao nhiệm vụ xác minh phải tạo điều kiện để người bị tố cáo giải trình, đưa ra các bằng chứng để chứng minh tính đúng, sai của nội dung tố cáo.

3. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ trong quá trình xác minh, giải quyết tố cáo phải được ghi chép thành văn bản và lưu vào hồ sơ giải quyết tố cáo.

4. Sau khi kết thúc việc xác minh, người được giao nhiệm vụ xác minh phải có văn bản kết luận về nội dung tố cáo và phải có những chứng cứ để chứng minh cho kết luận của mình.

5. Căn cứ vào kết quả xác minh, kết luận về nội dung tố cáo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp giải quyết tố cáo tiến hành xử lý như sau:

a. Trường hợp người bị tố cáo không vi phạm pháp luật, không vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thì phải có kết luận rõ ràng và thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo biết, đồng thời xử lý hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật.

b. Trường hợp người bị tố cáo có vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ, phải xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý.

c. Người giải quyết tố cáo phải gửi văn bản kết luận vụ việc tố cáo, quyết định xử lý tố cáo cho cơ quan thanh tra, cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp; thông báo cho người tố cáo kết quả giải quyết nếu họ có yêu cầu, trừ những nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước (Điều 49, Nghị định 53/2005/NĐ-CP).