Điều 7. Điều kiện dự thi
Những học sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Quy chế này được công nhận đủ điều kiện dự thi, nếu:
Học sinh các lớp quy định của cấp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông (học liên tục hoặc không liên tục); được đánh giá, xếp loại về hạnh kiểm và học lực ở mỗi lớp học; được lên lớp theo quy định hiện hành.
Đánh giá, xếp loại ở lớp cuối cấp;
b.1) Hạnh kiểm xếp loại từ trung bình trở lên.
b.2) Không bị xếp loại kém về học lực
b.3) Không nghỉ học quá 45 buổi (nghỉ một lần hay nghỉ nhiều lần cộng lại).
Không trong thời gian tạm giam, tạm giữ hoặc mất quyền công dân.
Những đối tượng học sinh nêu tại khoản 2 Điều 6 của Quy chế này được công nhận đủ điều kiện dự thi, nếu:
Không trong thời gian tạm giam, tạm giữ hoặc mất quyền công dân; không trong thời gian chịu kỷ luật cấm thi.
Được xã, phường (sau đây gọi chung là cấp xã) nơi cư trú xác nhận và đề nghị cho dự thi nếu: thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước và những quy định về an ninh trật tự ở địa phương; tham gia các hoạt động xã hội do địa phương tổ chức; lối sống và đạo đức tốt.
Riêng những học sinh không đủ điều kiện dự thi do bị xếp loại kém về học lực ở lớp cuối cấp phải đăng ký và dự kỳ kiểm tra cuối năm học tại nhà trường nơi học lớp cuối cấp một số môn học có điểm trung bình dưới 5,0 sao cho điểm bài kiểm tra khi thay cho điểm trung bình môn học để tính lại điểm trung bình cả năm thì đủ điều kiện về học lực theo quy định.
Tuổi dự thi (đối với học sinh đang học và thí sinh tự do): không quá 21 tuổi đối với kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở, không quá 24 tuổi đối với kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.
Chậm nhất trước ngày thi 10 ngày, Hiệu trưởng nhà trường phải thông báo công khai những học sinh không đủ điều kiện dự thi theo quy định tại khoản 1,2,3 của Điều này.