vanban.org

Điều 34. Nguyên tắc và thể thức làm việc của Hội đồng. — Quyết định 17/2002/QĐ-BGD&ĐT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 29/03/2008 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 4/4 · từ 26/05/2007 Sửa đổi, bổ sung: 13/2004/QĐ-BGD · 28/04/2004
Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành 05/04/2002 Hiệu lực 20/04/2002 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 phiên bản · 24 năm
Quyết định số 17/2002/QĐ-BGD&ĐT Về việc ban hành Quy chế thi tốt nghiệp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông · 17/2002/QĐ-BGD&ĐT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 17/2002/QĐ-BGD&ĐT › Chương X › Điều 34
Đọc toàn văn

Điều 34. Nguyên tắc và thể thức làm việc của Hội đồng.

b) Các Phó Trưởng ban gồm:

- Chánh hoặc Phó Chánh Văn phòng Bộ. 

- Cục trưởng hoặc Phó Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Vụ trưởng hoặc Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học, Vụ trưởng hoặc Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục thường xuyên.

- Chánh hoặc Phó Chánh Thanh tra.

c) Uỷ viên: Chuyên viên Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Vụ Giáo dục trung học, Vụ Giáo dục thường xuyên, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Công tác học sinh, sinh viên, Thanh tra và các đơn vị có liên quan thuộc Bộ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ định.

2. Bộ phận làm phách phải được bố trí nới làm việc riêng, biệt lập với nơi làm việc của các tổ chấm thi.

Bộ phậm làm phách chỉ giao bài thi đã cắt phách và nhận bài thi để hồi phách qua Chủ tịch Hội đồng hoặc một phó Chủ tịch được Chủ tịch hội đồng uỷ quyền.

Trong quá trình chấm thi, ngoài lãnh đạo sở giáo dục và đào tạo, chủ tịch hội đồng, các thành viên ban chỉ đạo và kiểm tra thi cấp trên, không ai được vào nơi làm việc của bộphận làm phách.

3. Tổ trưởng điều khiển tổ nghiên cứu và thực hiện đúng bản hướng dẫn chấm thi. Nếu trong tổ có ý kiến thắc mắc không tự giải quyết được hoặc phát hiện có sự nhầm lẫn trong văn bản thì yêu cầu chủ tịch xin ý kiến chỉ đạo của ban chỉ đạo và kiểm tra thi, tuyệt đối không được tự thay đổi hướng dẫn chấm và biểu điểm.

4. Trước khi giao bài cho giám khảo, tổ phải chấm chung 10 bài để giúp cho mọi thành viên của tổ đều quán triệt văn bản hướng dẫn chấm thi. Khi cho điểm các bài chấm chung phải ghi rõ”bài chấm chung” kèm theo chữ ký của tổ trưởng và một giám khảo.

5. Trừ những bài chấm chung, mỗi bài thi phải được hai giám khảo chấm độc lập, ghi điểm riêng theo số phách. Sau khi mỗi bài đã được hai giám khảo chấm xong tổ trưởng mới giao lại cho hai giám khảo đó thống nhất ghi điểm vào bài thi và phiếu ghi điểm, vừa bằng chữ, vừa bằng số và cùng ký tên. Điểm của bài thi được ghi bằng mực đỏ. Nếu hai giám khảo muốn thay đổi điểm thì gạch chéo điểm đã cho và ghi điểm mới bằng cả số và chữ rồi cùng ký tên xác nhận việc sửa điểm.

6. Điểm bài thi là tổng số điểm của từng phần cộng lại. Điểm nhỏ nhất của từng phần là 0,25. Điểm toàn bài là một số nguyên hoặc số thập phân từ 0 đến 10 mà phần thập phân chỉ là 0 hoặc 5.

7. Ngoài Hội đồng phúc khảo, không ai có quyền sửa điểm bài thi do hai giám khảo đã nhất trí ghi.

8. Nghiêm cấm Hội đồng chấm thi chấm lại và thay đổi điểm những bài đã hồi phách.

9. Việc ghi điểm bài thi vào bảng ghi tên, ghi điểm của mỗi phòng thi do một nhóm người làm phách thực hiện, phải có: một người đọc, một người ghi, một người kiểm tra. Nếu có nhầm lẫn thì người ghi điểm gạch chéo điểm ghi sai, ghi điểm mới bên cạnh. Ở phần chú thích ghi lý do sửa điểm. Cuối mỗi bảng ghi điểm bài thi phải ghi rõ: họ tên người đọc, người ghi, người kiểm tra, tổng số điểm sửa đổi, rồi cả ba người cùng ký.

Trường hợp lập bảng ghi tên ghi điểm qua máy vi tính cũng phải bảo đảm một người đọc, một người nạp đĩa mềm, một người kiểm tra và cuối bảng ghi tên, ghi điểm phải ghi rõ họ, tên của cả ba người và ba người cùng ký.