Điều 19. Chứng khoán bị kiểm soát
1. Chứng khoán niêm yết được đưa vào diện bị kiểm soát khi xảy ra một trong các trường hợp sau:
1.1 Đối với cổ phiếu, trái phiếu
a) Không còn đáp ứng điều kiện niêm yết quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, bao gồm:
i. Có nợ quá hạn trên 1 năm hoặc tỷ lệ nợ quá hạn cao hơn 10% tổng vốn chủ sở hữu;
ii. Không có đủ 100 cổ đông nắm giữ tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty hoặc không có đủ 100 người sở hữu trái phiếu của cùng một đợt phát hành theo danh sách cổ đông/ trái chủ gần nhất;
b) Kết quả sản xuất kinh doanh phát sinh âm;
c) Tổ chức niêm yết ngừng hoặc bị ngừng các hoạt động sản xuất kinh doanh chính;
d) Tổ chức niêm yết không chấp hành đúng thời hạn nộp báo cáo định kỳ theo quy định tại Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
e) Tổ chức niêm yết không chấp hành đúng thời hạn hoặc không thực hiện công bố thông tin bất thường theo quy định tại Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
f) Tổ chức niêm yết không thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và/ hoặc Sở Giao dịch;
g) Cổ phiếu không có giao dịch trong vòng 90 ngày;
h) Trong trường hợp Sở Giao dịch xét thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
1.2 Đối với chứng chỉ quỹ, cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán
a) Không còn đáp ứng được các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 14/2007/NĐ- CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán bao gồm:
i. Tổng giá trị tài sản ròng của quỹ đầu tư chứng khoán giảm xuống dưới 50 tỷ đồng Việt Nam tính theo giá trị ghi trên báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất;
ii. Không có đủ 100 người sở hữu chứng chỉ quỹ hoặc 100 cổ đông nắm giữ cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán theo danh sách nhà đầu tư/ cổ đông gần nhất
b) Công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán không chấp hành đúng thời hạn nộp báo cáo định kỳ theo Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
c) Công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán không chấp hành đúng thời hạn hoặc không thực hiện công bố thông tin bất thường theo quy định tại Quy chế công bố thông tin trên Sở Giao dịch;
d) Công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán không thực hiện công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và/ hoặc Sở Giao dịch;
e) Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán, cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán không có giao dịch trong vòng 90 ngày;
f) Trong trường hợp Sở Giao dịch xét thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
2. Trường hợp tổ chức niêm yết khắc phục được các tình trạng nêu tại Khoản 1 Điều này, Sở Giao dịch sẽ dỡ bỏ ký hiệu kiểm soát đối với chứng khoán niêm yết.