Điều 8. Quy định về công tác quản lý sử dụng VLNCN
1. Tất cả các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng VLNCN vào mục đích sản xuất, dịch vụ nổ mìn, đào tạo, huấn luyện, nghiên cứu khoa học và thử nghiệm phải có giấy phép sử dụng VLNCN do cơ quan có thẩm quyền cấp, giấy phép phải được đăng ký tại Sở Công nghiệp mới được phép sử dụng VLNCN.
2. Hàng năm các tổ chức, doanh nghiệp được phép sử dụng VLNCN phải lập kế hoạch sử dụng VLNCN của năm tiếp theo gửi về Sở Công nghiệp trước ngày 15 tháng 12 của năm trước.
3. Các tổ chức, doanh nghiệp được phép sử dụng chỉ được mua VLNCN ở các doanh nghiệp được phép kinh doanh cung ứng VLNCN; trường hợp sử dụng không hết hoặc không sử dụng thì phải bán lại cho đơn vị kinh doanh cung ứng ban đầu, không được bán lại cho bất cứ đối tượng nào khác.
4. Việc mua bán VLNCN phải ký kết và thanh lý hợp đồng theo đúng quy định về ký kết và thực hiện hợp đồng của pháp luật. Các tổ chức, doanh nghiệp mua VLNCN phải cung cấp bản sao hợp đồng mua bán và thanh lý cho Sở Công nghiệp và Công An tỉnh kiểm tra, giám sát.
5. Các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng VLNCN phải có thiết kế, phương án và hộ chiếu khoan nổ mìn đã được cơ quan chức năng có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt hoặc chấp thuận. Hộ chiếu nổ mìn do Chỉ huy nổ mìn lập, có sự phê chuẩn của Thủ trưởng đơn vị hoặc cấp tương đương của đơn vị phê chuẩn theo quy định.
6. Chỉ được sử dụng VLNCN theo đúng số lượng, chủng loại và thời hạn ghi trong giấy phép; việc sử dụng VLNCN vượt quá số lượng trong giấy phép sẽ bị xử lý thuộc hành vi sử dụng giấy phép VLNCN hết hạn.
7. Trong quá trình sử dụng VLNCN phải có đầy đủ hệ thống sổ sách ghi chép, phiếu nhập, phiếu xuất, hóa đơn, hộ chiếu và phải thống kê mọi hoạt động mua, bán, tồn kho, tiêu hủy VLNCN. Sổ sách, chứng từ nêu trên phải được bảo quản, lưu trữ theo quy định của TCVN 4586:1997 và quy định của Bộ Tài chính.
8. Hàng tháng phải tổng hợp tình hình sử dụng VLNCN của đơn vị báo cáo cho Công an tỉnh và báo cáo định kỳ 06 tháng, 01 năm cho Sở Công nghiệp.