vanban.org

Điều 6. Bồi thường về đất và hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở — Quyết định 16/2018/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/10/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 20/09/2019 Thay thế: 43/2021/QĐ-UBND · 30/09/2021
Nam Định Ban hành 02/07/2018 Hiệu lực 12/07/2018 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 8 phiên bản · 8 năm
Quyết định số 38/2024/QĐ-UBND Ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định · 38/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 43/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định · 43/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 16/2018/QĐ-UBND V/v ban hành quy định cụ thể một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nam Định · 16/2018/QĐ-UBND
20/09/201929/2019/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 12/07/2018Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 16/2018/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Bồi thường về đất và hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở

    1. Điều kiện được bồi thường bằng đất ở

    Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất ở thì được Nhà nước bồi thường bằng đất ở như sau:

    a) Trường hợp bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (Trừ trường hợp hộ không có nhu cầu tái định cư).

b) Trường hợp nhà nước thu hồi đất ở mà phần diện tích đất ở còn lại không đủ điều kiện để ở và không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi, cụ thể:

- Diện tích còn lại không đủ điều kiện để ở được xác định theo diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa trên địa bàn tỉnh Nam Định ban hành kèm theo Quyết định số 14/2018/QĐ-UBND ngày 20/6/2018 của UBND tỉnh Nam Định quy định diện tích tối thiểu được tách thửa các loại đất trên địa bàn tỉnh Nam Định.

- Diện tích còn lại bằng hoặc nhiều hơn hạn mức theo Quyết định số    14/2018/QĐ-UBND nhưng lô đất còn lại bị chéo, méo không thể làm nhà hoặc chiều sâu thửa đất dưới 5m hoặc chiều rộng mặt tiền thửa đất dưới 4m.

c) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở được xác định theo diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa trên địa bàn tỉnh Nam Định ban hành kèm theo Quyết định số 14/2018/QĐ-UBND  mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

    2. Nhà nước thực hiện việc bồi thường bằng đất ở theo hình thức giao đất ở tại khu tái định cư; Đối với khu vực nông thôn chưa có điều kiện xây dựng khu tái định cư thì được giao đất ở phân lô nằm trong các điểm quy hoạch đất ở nông thôn (gọi tắt là tái định cư phân tán). Mỗi hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện được bồi thường bằng đất ở tại điểm 1 Điều này được bồi thường bằng việc giao 01 lô đất ở tại khu tái định cư với mức diện tích phù hợp với số nhân khẩu trong hộ, diện tích đất ở bị thu hồi và quy hoạch chi tiết khu tái định cư nhưng tối đa không vượt quy định của UBND tỉnh về hạn mức giao đất ở mới và không nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa.

    Trường hợp mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi, có đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở bị thu hồi thì tùy từng trường hợp cụ thể được xem xét giao thêm lô đất tái định cư.

    3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện để được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được Nhà nước giao 01 suất đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư. Giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.

    4. Suất đất ở tái định cư tối thiểu làm căn cứ để tính và hỗ trợ khoản chênh lệch giữa số tiền được bồi thường, hỗ trợ và giá trị một suất tái định cư tối thiểu (theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 27 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP) được quy định bằng đất ở, theo quy định sau:

    a) Đối với các phường của thành phố Nam Định: Suất đất ở tái định cư tối thiểu có diện tích 30 m2.

    b) Đối với trường hợp tái định cư tại các thị trấn, các xã thuộc thành phố Nam Định và các khu vực nằm ven các đường Quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, đường giao thông liên xã, suất đất ở tái định cư tối thiểu có diện tích 50 m2.

    c) Đối với các khu tái định cư phân tán thuộc khu vực nông thôn suất tái định cư tối thiểu có diện tích 80 m2.

    5. Giá đất giao tái định cư: Giá đất giao tái định cư theo quy định tại Khoản 2 Điều này là giá đất cụ thể do UBND tỉnh quyết định.

    6. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị giữa số tiền được bồi thường so với giá trị lô đất tái định cư thì phần chênh lệch về giá trị đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:

    a) Trường hợp tiền bồi thường về đất lớn hơn giá trị lô đất ở được giao tái định cư thì người được giao đất tái định cư được nhận phần chênh lệch đó.

    b) Trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị suất đất ở được giao tái định cư thì người được giao đất tái định cư phải nộp phần chênh lệch trừ trường hợp quy định tại mục c khoản này.

    c) Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ở mà không còn chỗ ở nào khác, được giao đất ở tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu theo quy định tại Khoản 4 Điều này thì được hỗ trợ khoản tiền chênh lệch đó; trường hợp không nhận đất ở tại khu tái định cư hoặc lô đất tái định cư tối thiểu thì được nhận một khoản tiền tương đương với khoản chênh lệch đó.

    Khoản tiền chênh lệch được tính bằng giá trị quyền sử dụng đất của 01 suất tái định cư tối thiểu theo giá đất do UBND tỉnh quyết định trừ đi tiền được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích đất bị thu hồi.

    7. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận một khoản tiền hỗ trợ bằng chi phí đầu tư hạ tầng của 01 suất đất tái định cư tại khu tái định cư tập trung đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trừ trường hợp đã được nhận khoản hỗ trợ quy định tại Khoản 6 Điều này. Trường hợp trên địa bàn không có khu tái định cư tập trung thì được hỗ trợ chi phí đầu tư hạ tầng cho 01 lô đất tái định cư phân tán, gồm: Chi phí san lấp, cấp điện sinh hoạt, cấp thoát nước.

    8. Trường hợp khi thu hồi đất ở hộ gia đình, cá nhân không còn chỗ ở khác, nếu trong thửa đất thu hồi còn diện tích đất còn lại thuộc loại đất khác (không phải là đất ở) mà phù hợp với quy hoạch đất ở đã được xét duyệt, nếu có nguyện vọng thì hộ gia đình, cá nhân được tái định cư tại chỗ theo hình thức cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất còn lại sang đất ở; diện tích được chuyển mục đích phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về đất đai. Hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ tiền đầu tư hạ tầng như nơi không có khu tái định cư tập trung theo quy định tại khoản 7 Điều này.