Điều 13. Ban chỉ đạo các Chương trình
1. Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập một Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban; các đồng chí phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phụ trách các khối làm Phó Trưởng ban thường trực; đồng chí Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và đồng chí Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và xã hội làm Phó Trưởng ban; ủy viên thường trực và các ủy viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo các Sở, Ban ngành liên quan.
2. Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia của tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, điều hành việc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia trên phạm vi địa bàn tỉnh.
3. Cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo:
a) Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan tổng hợp 02 Chương trình.
b) Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực, chủ trì Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
c) Sở Lao động – Thương binh và xã hội là cơ quan thường trực, chủ trì Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.
4. Kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia của tỉnh và Văn phòng điều phối Ban chỉ đạo đảm bảo kinh phí từ nguồn ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho chương trình và nguồn ngân sách tỉnh.
5. Cấp huyện: Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia cấp huyện theo cơ cấu các cơ quan chuyên môn như cấp tỉnh.
6. Cấp xã: Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập một Ban quản lý cấp xã, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm Trưởng Ban, để tổ chức thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn xã. Thành viên Ban quản lý cấp xã bao gồm: cán bộ chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức đoàn thể và đại diện cộng đồng dân cư.
7. Kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp huyện, xã do ngân sách nhà nước bảo đảm và được bố trí trong kinh phí thường xuyên của các cơ quan, đơn vị và nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp từ Chương trình.