Điều 6. Trách nhiệm tự kiểm tra văn bản.
1. Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp tự kiểm tra văn bản do mình ban hành trong các trường hợp sau đây:
a) Ngay sau khi văn bản được ban hành.
b) Khi nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản.
c) Khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc của các phương tiện thông tin đại chúng.
2. Cơ quan giúp việc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thực hiện tự kiểm tra văn bản:
a) Việc tự kiểm tra văn bản của Hội đồng nhân dân tỉnh do Ban pháp chế của Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện; Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh.
b) Việc tự kiểm tra văn bản của Hội đồng nhân dân cấp huyện do Ban pháp chế của Hội đồng nhân dân cấp huyện thực hiện; Trưởng Phòng Tư pháp cấp huyện thực hiện việc tự kiểm tra văn bản của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
c) Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã thực hiện tự kiểm tra văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã.
3. Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm thường xuyên tiến hành tự kiểm tra văn bản do cơ quan mình ban hành để kịp thời phát hiện, xử lý những văn bản có nội dung trái pháp luật.