Điều 20. Quyền của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản có văn bản được kiểm tra.
1. Được thông báo về kế hoạch, nội dung kiểm tra, nội dung được yêu cầu;
2. Trình bày ý kiến liên quan đến nội dung văn bản được kiểm tra;
3. Từ chối trả lời, cung cấp thông tin không thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình hoặc những thông tin thuộc bí mật nhà nước không được phép cung cấp theo quy định của pháp luật;
4. Giải trình và đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền kiểm tra xem xét lại thông báo về xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo;
5. Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản vẫn quyết định xử lý văn bản thì cơ quan, người có văn bản được kiểm tra có quyền đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản xem xét lại quyết định xử lý.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị xem xét lại quyết định xử lý, nếu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản là Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh không trả lời hoặc vẫn giữ nguyên quyết định xử lý của mình và cơ quan, người có văn bản được kiểm tra không nhất trí với quyết định xử lý đó thì có quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ; nếu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản là Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không trả lời hoặc vẫn giữ nguyên quyết định xử lý của mình và cơ quan, người có văn bản được kiểm tra không nhất trí với quyết định xử lý đó thì có quyền báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.
Khi thực hiện các quyền quy định tại khoản 4 và 5 Điều này, cơ quan, người có văn bản được kiểm tra phải chứng minh được văn bản do mình ban hành đúng pháp luật và chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước pháp luật về tính trung thực, đúng đắn trong báo cáo, đề nghị của mình.