vanban.org

Điều 18. Cấp phát vốn mua sắm, đầu tư và xây dựng đối với vốn ngân sách Nhà nước — Quyết định 150/2002/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2004 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2004 Thay thế: 190/2003/QĐ-UB · 30/12/2003
Đà Nẵng Ban hành 27/12/2002 Hiệu lực 01/01/2003 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời quyết định · 11 phiên bản · 26 năm
Quyết định số 190/2003/QĐ-UB Về việc ban hành quy định một số vấn đề về mua sắm, quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố · 190/2003/QĐ-UB
Quyết định số 150/2002/QĐ-UB Ban hành Quy định một số vấn đề về mua sắm, quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 150/2002/QĐ-UB
01/01/2004190/2003/QĐ-UBThay thế Đang xem 01/01/2003Bản gốcThay thế
Quyết định số 89/2002/QĐ-UB Về việc ban hành quy định một số vấn đề về mua sắm, quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố · 89/2002/QĐ-UB
Quyết định số 155/2001/QĐ-UB Về ban hành Quy định về mua sắm, quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố do Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành · 155/2001/QĐ-UB
Quyết định số 77/2000/QĐ-UB Về ban hành Quy định về quản lý đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố do Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành · 77/2000/QĐ-UB
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 150/2002/QĐ-UB › Chương V › Điều 18
Đọc toàn văn

Điều 18. Cấp phát vốn mua sắm, đầu tư và xây dựng đối với vốn ngân sách Nhà nước

Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư trên cơ sở các thủ tục đầu tư theo quy định mức vốn của từng dự án như sau:

a/ Đối với các dự án đã được bố trí trong kế hoạch hàng năm và các dự án chưa được bố trí trong kế hoạch thuộc ngân sách thành phố: Khi có quyết định cấp phát vốn đầu tư và xây dựng cơ bản của chủ tịch UBND thành phố;

Giao cho người đứng đầu cơ quan trực thuộc thành phố cấp phát vốn đầu tư xây dựng đối với các dự án có tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng đã ghi trong kế hoạch

2. Thực hiện việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư và xây dựng nói trên được thực hiện theo các mức sau

Chi phí lập dự án: Những dự án mới có Quyết định phê duyệt nhưng chưa được thẩm tra chi phí lập dự án, được thanh toán không quá 80% giá trị thực hiện; đã thẩm tra được thanh toán 100%

Chi phí lập thiết kế - dự toán: Những dự án mới có thiết kế và dự toán được duyệt thanh toán không quả 70%; dự án đã xây dựng hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa được thẩm tra chi phí thiết kế và tổng dự toán được thanh toán không quá 90% giá trị thực hiện; đã thẩm tra được thanh toán 100% theo giá trị thẩm tra.

- Chi phí xây lắp: Những dự án đã có khối lượng xây lắp hoàn thành được cấp không quá 80% giá trị khối lương; cấp 100% giá trị khối lượng hoàn thành nếu đã được phê duyệt quyết toán vốn đầu tư. Riêng chi phí bảo hành công trình được thực hiện theo quy định hiện hành. Trường hợp đặc biệt, Chủ tịch UBND thành phố giải quyết tạm ứng trực tiếp cho các đơn vị khi đã xác định được khối lượng nhưng chủ đầu tư hoặc Ban Quản lý dự án không xác nhận thanh toán;

3. Khi cần thiết đẩy nhanh tiến độ một số công trình, UBND thành phố sẽ giải quyết tạm ứng vốn Ngân sách cho các Ban quản lý dự án, Ban giải toả đền bù, đơn vị thi công theo đề nghị của các đơn vị này bằng các quyết định cấp phát vốn đầu tư và xây dựng. Đơn vị được tạm ứng phải lập hồ sơ thanh toán và hoàn thành việc trả nợ trước ngày 25 tháng 12 hàng năm;

4. Về nguyên tắc, không chấp nhận phát sinh, không cho sử dụng dự phòng phí. Nếu cần thiết phải thay đổi thiết kế trong quá trình thi công (kể cả thay đổi làm giảm, bằng hoặc tăng kinh phí) phải được cơ quan phê duyệt giá trị đền bù, giá trị hàng hoá và thiết kế dự toán đồng ý trước khi thực hiện và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về quyết định của mình. Trường hợp tăng kinh phí thì chỉ cho phép tăng trong khoán dự phòng của dự toán và không vượt tổng mức đầu tư được duyệt. Trường hợp đặc biệt nếu tăng so với dự án được duyệt thì phải được cơ quan phê duyệt quy mô đầu tư đồng ý.

Những trường hợp thay đổi nêu trên nếu được cấp có thẩm quyền đồng ý thì không cần phải lập và trình thẩm định phê duyệt bổ sung thiết kế - dự toán mà chỉ cần thề hiện đầy đủ trong hồ sơ hoàn công; trừ một số trường hợp thật sự cần thiết mới phải lập hồ sơ thiết kế - dự toán để được thẩm tra phê duyệt bổ sung