Điều 5. Tỷ lệ cử đi đào tạo, bồi dưỡng hàng năm
1. Cử đi bồi dưỡng đạt tối thiểu 15% so với tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong danh sách trả lương của từng cơ quan, đơn vị.
Thời gian tham gia các lớp tập huấn, các khóa bồi dưỡng khác nhau, hội thảo, hội nghị về công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành theo quy định của cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức và theo nhu cầu của cán bộ, công chức, viên chức được cộng dồn để tính thời gian thực hiện chế độ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm với thời gian tối thiểu 01 tuần (40 tiết)/năm và tối đa 04 tuần (160 tiết)/năm.
2. Cử đi đào tạo sau đại học bằng ngân sách thành phố không quá 1% so với tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong danh sách trả lương của từng cơ quan, đơn vị. Trường hợp cơ quan, đơn vị có số lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động dưới 100 người thì được cử tối đa 01 người.
3. Cử đi đào tạo sau đại học bằng nguồn kinh phí của đơn vị, học bổng hoặc các nguồn hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức hợp pháp khác: không quá 5% so với tổng số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong danh sách trả lương của từng cơ quan, đơn vị.
4. Riêng đối với ngành Y tế và ngành Giáo dục và Đào tạo, cử đi đào tạo sau đại học bằng ngân sách thành phố không quá 02 người so với tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong danh sách trả lương của từng cơ quan, đơn vị; cử đi đào tạo sau đại học bằng nguồn kinh phí của đơn vị, học bổng hoặc các nguồn hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức hợp pháp khác không quá 10% so với tổng số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong danh sách trả lương của từng cơ quan, đơn vị.