Điều 5. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân
1. Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân: thực hiện bồi thường theo Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15 của Nghị định 197/2004/NĐ - CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ; và Điều 44, Điều 45, Điều 46 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP;
2. Đối với đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư, ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng còn được hỗ trợ bằng tiền, giá tính hỗ trợ bằng 40% giá đất ở liền kề;
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại và hỗ trợ như sau:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân giao nhận đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường và hỗ trợ bằng tiền, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương :
- Mức bồi thường, hỗ trợ bằng 50% giá đất bồi thường đối với đất trồng cây hàng năm và mức bồi thường, hỗ trợ bằng 40% giá đất bồi thường đối với đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp cho những hộ đã nhận khoán và sử dụng đất từ 3 năm trở lên;
- Mức bồi thường, hỗ trợ bằng 30% giá đất bồi thường đối với đất trồng cây hàng năm và mức bồi thường, hỗ trợ bằng 20% giá đất bồi thường đối với đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp cho những hộ đã nhận khoán và sử dụng đất dưới 3 năm;
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản này thì chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất bằng 20% giá đất đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất;
c) Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi nhà nước thu hồi không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
4. Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp thuộc đất công ích của xã, phường, thị trấn thì người thuê đất không được bồi thường về đất, nhưng người thuê đất được bồi thường chi phí đầu tư vào đất bằng 40% giá đất nông nghiệp cùng hạng đối với diện tích đất giao nhận khoán và sử dụng đất từ 3 năm trở lên; 20% giá đất nông nghiệp cùng hạng đối với diện tích đất giao nhận khoán và sử dụng đất dưới 3 năm.
Mức bồi thường chi phí đầu tư về đất trên áp dụng cho cả việc thuê ao, hồ, đầm để nuôi trồng thủy sản (nếu đã tính bồi thường hoặc hỗ trợ công đào đắp, nạo vét, cải tạo… thì không được tính mức hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất trên).
5. Đối với đất nông nghiệp khai hoang được tính hỗ trợ bồi thường như quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn giao nhận khoán dưới 03 năm.
6. Trường hợp tổ chức được nhà nước cho thuê đất hoặc giao đất không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì không được bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất. Nếu tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất bằng 20 % giá đất cùng hạng.
7. Đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn :
a) Khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình cá nhân để sử dụng làm hành lang bảo vệ an toàn xây dựng công trình công cộng thì được bồi thường theo quy định tại Quyết định này.
b) Trường hợp nhà nước không thu hồi đất thì đất nằm trong phạm vi hành lang an toàn của công trình công cộng được bồi thường thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại về tài sản gắn liền với đất như sau:
Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất ở (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại trong hành lang bảo vệ an toàn của công trình), nhưng hạn chế khả năng sử dụng đất thì được bồi thường bằng tiền, mức bồi thường bằng 50% giá đất ở theo quy định của UBND tỉnh tại thời điểm thu hồi đất.