Điều 14. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi.
1. Mức bồi thường đối với cây hàng năm được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch đó. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong ba năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất.
2. Mức bồi thường đối với cây lâu năm được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây (không bao hàm giá trị quyền sử dụng đất) theo giá của địa phương tại thời điểm thu hồi đất. Mức bồi thường được tính theo bảng giá số 2 kèm theo Quyết định này. Một số trường hợp cụ thể quy định như sau:
a) Đối với các loại cây ăn quả, cây lấy gỗ: tính theo mật độ cây trồng chính trên ha (cây/ha); có bảng số 2A về mật độ cây trồng kèm theo;
b) Đối với những cây trồng xen ghép trước khi có chủ trương quy hoạch và thu hồi đất, thì được xem xét hỗ trợ, mức hỗ trợ không quá 50% theo giá quy định của từng loại cây trồng;
c) Đối với cây trồng xen ghép sau khi đã có chủ trương quy hoạch và thu hồi đất thì không được bồi thường, hỗ trợ;
d) Đối với cây trồng ươm (đang ở thời kỳ ươm giống): chỉ tính di chuyển;
đ) Đối với cây trồng xen canh ngắn ngày theo mùa vụ thì tính bồi thường theo thực tế.
4. Cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho các tổ chức, hộ gia đình trồng, quản lý, chăm sóc, bảo quản thì bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo quản theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
5. Đối với vật nuôi trong nuôi trồng thuỷ sản được bồi thường theo quy định sau:
Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường. Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch được thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra.